Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3 1. Vấn đề sâu róm thông trên thế giới Theo nhiều tài liệu đã công bố trên thế giới, sâu róm thông phân bố theo loài cây và loài sâu. Hiện nay sâu róm thông có khoảng 82 loài, thuộc 7 chi 1 họ. Trong đó sâu róm thông Dendrolimus có 27 loài (bao gồm cả 4 loài phụ).
Trong đó có 8 loài phân bố ở vùng Mông cổ và Đông Bắc Trung Quốc. Vùng Mông cổ có D. Vùng Đông Bắc có D. Còn 18 loài khác phân bố ở vùng biển đông và Đông Nam Á.
Vùng châu Âu ôn đới có loài D. pini, sâu róm thông Pakistan (D. benderi), ở Liên xô (cũ) và châu Âu có D. superans; ở Mông cổ có loài D.
superans; Nhật Bản và Triều Tiên có D. spectabilis; ở Việt Nam có sâu róm thông đuôi ngựa (D. Hầu hết các loài sâu róm thông tập trung ở Trung Quốc. Trong đó có 6 loài gây hại nghiêm trọng và thường phát dịch là sâu róm thông đuôi ngựa, sâu róm thông dầu, sâu róm thông đỏ, sâu róm thông Vân Nam và sâu róm thông kikuchi.
Từ những tài liệu của Zhang cho biết ở Việt Nam sâu róm thông gây hại chủ yếu có loài sâu róm thông đuôi ngựa (Dendrrolimus punctatus) và có thể có loài sâu róm thông kikuchi (Dendrrolimus kikuchii). Ngoài ra, theo Zhang sâu róm thông đuôi ngựa là loại hình Đông Dương điển hình, nằm dọc phìa bình nguyên phía đông đến vĩ độ Bắc 32o, nơi có nhiệt độ tích ôn 4.500oC, từ núi Thái Sơn đến sông Hoài, từ vùng có nhiệt độ bình quân tháng là 0oC trở lên, cho đến vùng Đảo Hải Nam, Đài Loan, phía Tây Nam cho đến tỉnh Quảng Tây Trung Quốc. Rừng bị hại thường là rừng Thông thuần loài, rừng hỗn giao thường xanh, rừng gió mùa và rừng mưa nhiệt đới. Đô cao so mặt biển dưới 500m thường có sâu róm thông đuôi ngựa phân bố, một số nơi bị hại không chỉ Thông mã vĩ màm còn một sô loài Thông khác như Thông đen Pinus densiflora, 4 Thông nhựa Pinus kesia, Thông elioti Pinus elioti.
Trong các vùng núi duyên hải, có các vùng rừng Thông mã vĩ và Thông nhựa thuần loài, sâu róm thông gây thành dịch, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới, những ngày mưa lạnh, lượng mưa 1.000 m, độ cao so mặt biển trên 500 m, cũng có sâu róm thông nhưng diện tích gây dịch không lớn. Các loài khác như sâu róm thông dầu D. tabulaeformis, sâu róm thông đỏ D. spectabilis, sâu róm thông rụng lá D.
superans, sâu róm thông Vân Nam D. houi, sâu róm thông kikuchi D.kikuchii cũng gây hại nhưng phân bố ở các vùng khác nhau. Sâu róm thông dầu phân bố ở nơi có độ cao 800 ÷ 1800 m, nhiệt độ tháng 1 ÷ 8oC, hoặc độ vĩ 43o, lượng mưa 900 ÷ 1.500 m, nhiệt độ tích ôn là 4.000 mm, tuy cũng có một số loài sâu róm thông khác nhưng không gây thành dịch. Sâu róm thông đỏ phân bố ở một số tỉnh Nam Trung Quốc, vùng ven biển Hoàng Hải, bao gồm Liễu Ninh, Sơn Đông, phía nam đến tỉnh Giang Tô, lượng mưa năm chỉ 400 ÷ 1.000m, màu đông khô hạn, mùa hè nhiều mưa.
Hầu hết các vùng núi cao loài Thông này có thể gây thành dịch. Ngoài ra, có phân bố một số loài sâu khác nhưng không nghiêm trọng lắm. Sâu róm thông rụng lá thường phân bố ở độ vĩ 40o, tích ôn 3.500 mm, bao gồm 3 tỉnh vùng Đông Bắc Nội Mông cổ, Hà Bắc và Tân cương, nhiệt độ thấp nhất -33oC, lượng mưa chỉ 300 ÷ 1. Sâu róm thông Vân Nam phân bố tỉnh Vân Nam, Quý châu, độ cao 1.000 m, chủ yếu gây hại Thông Vân Nam.
Chúng thường gây thành dịch, ngoài ra cũng có một số loài sâu khác nhưng không nghiêm trọng. Sâu róm thông kikuchi phân bố ở nhiều tỉnh phía Nam Trung Quốc, gây hại nhiều loài Thông. Một số tài liệu cho biết năm 1965 chúng cùng phát sinh lẫn với loài ngài độc hại Thông, diện tích 2x104 ha, gây ra những tổn thất đáng kể. 5 Với nhưng số liệu trên ta có thể thấy sự phân bố của sâu róm thông ở nước ta có thể có nhiều loài nhưng gây dịch chủ yếu là sâu róm thông đuôi Ngựa (Dendrrolimus punctatus).
Theo một số ý kiến của các nhà côn trùng học Trung Quốc, ở Việt Nam có thể có loài D.kikuchii ngoài loài thường xuyên gây dịch nguy hiểm là sâu róm thông đuôi ngựa. - Trong 11 họ sâu nguy hiểm đối với cây rừng, bộ cánh vẩy (Lepidoptera) là loài có số lượng nhiều nhất. Trong đó họ ngài lá khô Lasiocampidae có một vị trí quan trọng. Các tác giả cũng nêu rất kỹ về đặc điểm hình thái, tập tính của ngài và bướm.
Trong cuốn “Quản lý tổng hợp sâu hại rừng miền Nam’ của Viện Khoa học lâm nghiệp Trung Nam cũng nêu rõ. Loại ngài và bướm có kích thước từ nhỏ đến lớn, sải cánh rộng 3 ÷ 265 mm. Miệng hút hoặc thoái hoá, râu môi dưới phát triển thành 3 đốt, mắt kép to, 2 mắt đơn hoặc không có. Râu đầu hình dùi trống, hình lông chim hoặc hình sợi.
có hai đôi cánh chất màng, mạch giữa thành buống, trên cánh phủ đầy vẩy. Sâu non có đầu rõ, 3 đốt ngực, gốc môi hình tam giác, miệng gặm nhai, môi dưới, hàm dưới và lưỡi hợp lại thành cơ quan nhả tơ, 3 đôi chân ngực, 10 đốt bụng, 2 ÷ 5 đôi chân bụng, có móc chân phá dưới xếp thành các kiểu khác nhau. 9 đôi lỗ thở, nằm ở ngực trước và 8 đốt bụng. Chúng thuộc biến thái hoàn toàn, nhộng bọc.
- Hầu hết sâu non sống trên cạn, ăn lá cây, một số ăn thịt hoặc ăn vật thối mục, chỉ có một số ít sâu trưởng thành ăn hại, còn lại là sâu non ăn hại lá, đục thân cành, đục quả. Nhiều tác giả chia bộ này ra làm 2 bộ phụ: - Bộ phụ đồng mạch: mạch cánh trước và nhau như nhau. - Bộ phụ dị mạch: mạch cánh trước sau khác nhau. - Trong bộ này đối với cây lâm nghiệp có 16 họ.
Mỗi một họ đều có sự khác nhau về đặc điểm hình thái. Hầu hết các loài trong các họ đều có sự khác nhau về kích thước thân thể, dạng râu đầu, cánh trước , cánh sau, các mạch cánh, khả năng hoạt động và cây chủ bị hại. 6 - Trong các họ đó, sâu róm thông đuôi ngựa thuộc họ ngài lá khô Lasiocampidae. Đặc điểm hình thái cơ bản của họ này là: - Sâu trưởng thành thuộc loại trung bình đến lớn.
Thân béo mập, sau lưng có nhiều vẩy, màu nâu xám đến vàng khô. Miệng thoái hoá. Râu đầu hình răng lược kép. Lúc nghỉ , hình dáng màu sắc tự như lá khô, cánh sau không có móc cánh, góc vai phình to, có mấy mạch vai.
Thân sâu non to, có nhiều lông cứng thứ sinh dài ngắn khác nhau. Trên chân ngực trước có 1 ÷ 2 u lồi, móc bàn chân xếp thành hai hàng, sâu non tuổi nhỏ thường tụ đàn. Họ ngài lá khô là một loại sâu hại quan trọng của rừng và cây ăn quả. Điển hình là sâu róm thông Dendrolimus.
- Trong phần đặc điểm hình thái của một số loài thuộc chi sâu róm thông Zhang cũng nêu rõ ở 15 tỉnh miền Nam Trung Quốc các loài sâu róm thông đuôi ngựa (D. punctatus) sâu róm thông kikuchii (D. kikuchii), sâu róm thông Vân nam (D. haui) là phổ biến hơn cả.
- Đặc điểm hình thái của sâu róm thông đuôi ngựa, nhiều tài liệu của Trung Quốc và Việt nam đều nêu rõ: - Sâu trưởng thành màu trắng xám, màu nâu vàng hoặc nâu bã chè. Cánh ngài cái có sải cánh dài 43 ÷ 57 mm. Ngài đực 36 ÷ 49 mm, màu sẫm hơn, đầu nhỏ, râu môi dưới chìa ra. Mắt kép màu xanh vàng, râu đầu con đực dạng răng lược, con cái dạng lông chim.
Cánh trước con cái có 1 chấm trằng ở cuối buồng giữa, mép cánh trước và mép ngoài hình vòng cung, tuyến ngang màu nâu, tuyến ngang ngoài dạng sóng; đốm mép phụ ngoài màu đen, hình trăng khuyết, các đốm phía trong màu nhạt hơn. - Trứng hình bầu dục, dài 1,5 mm, rộng 1,1 mm. Mới đầu màu hồng, sau màu nâu tím. - Sâu non tuổi 3 dài 11 ÷ 20 mm, đầu rộng 1,5 ÷ 1,7 mm, thân màu nâu đen hoặc màu nâu đỏ, mặt lưng ngực trước và sau có 2 đường lông độc đen; 7 thân tuổi 4 dài 17 ÷ 32 mm.4 mm; sâu non tuổi già dài 38 ÷ 88 mm.
Thân màu đỏ hoặc màu đen, có vẩy màu trắng hoặc màu vàng, mặt lưng có túm lông độc ở giữa đốt 2 ÷ 3, hai bên thân có lông màu trắng xám. Sâu non con đực đốt bụng thứ 9 có 1 đốm tròn màu nhạt trong suốt. Xung quanh đốm tròn màu đỏ nâu, giữa màu vàng. - Nhộng hình thoi, dài 22 ÷ 37 mm, đoạn cuối có gai uốn cong, kén màu trắng xám, trên kén có lông độc (1, 2, 3).
- Về đặc điểm hình thái sâu róm thông kikuchii (Dendrrolimus kikuchii) tác giả cũng nêu rõ chúng có những đặc điểm như sau: - Sâu trưởng thành con cái màu nâu bã chè, thân dài 38 ÷ 40 mm, sải cánh rộng 85 ÷ 110 mm. mặt cánh rộng có 4 vân dạng sóng màu nâu đen, đốm mép ngoài do 8 đốm tổ thành, bên trong các đốm màu vàng, buồng giữa có đốm trắng. Cánh sau có 2 vân ngang màu đen, mặt sau càng rõ hơn. Con cái màu nâu sẫm, thân dài 35 ÷ 40 mm, sải cánh 62 ÷ 75 mm.
Râu đầu dạng răng lược kép, phần giữa màu nâu vàng. Gần gốc cánh trước có một đốm hình quả thận màu vàng, 4 vân ngang màu nâu đen dạng sóng rất rõ, đốm mép phụ ngoài màu vàng rất rõ. - Trứng hình bầu dục, màu cà phê, gần với trứng của sâu róm thông vân nam, nhưng màu sẫm hơn. Kích thước 1.9 mm, trên vỏ trứng có 3 vân hao dạng vòng màu vàng, hai bên vân vòng giữa có các chấm nhỏ màu cà phê, ngoài chấm nhỏ là vân vòng tròn màu trắng.
- Sâu non mới nở dài 5 ÷ 6 mm, đầu màu vàng da cam. Mặt lưng ngực trước gần màu với màu đầu, mặt lưng ngực giữa và sau màu đen, giữa có đốm trắng vàng. Sâu non tuổi 2 ÷ 7 gần màu với thân, tuyến lưng màu vàng da cam, tạo thành đốm hình tam giác ngược, hai bên là vân sọc màu nâu đen và màu trắng vàng, bên thân có đường vân sọc dạng sóng màu trắng, dọc theo đường lỗ thở. Sâu non tuổi già dài 100 mm, có con dài 110 mm, thân màu nâu đen, lông độc 8 trên lưng rất rõ.
lông trên thân biến đổi rất lớn, màu nâu vàng và màu đen là nhiều nhất.