CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐİỀU KİỆN TỰ NHİÊN, ĐỊA CHẤT VÀ NGUỒN VẬT LİỆU DÙNG TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG KHU VỰC HUYỆN VŨNG LİÊM, VĨNH LONG 1.Vị trí địa lý, điều kiện địa chất, khí hậu, thủy văn huyện Vũng Liêm, Vĩnh Long 1.1 Vị trí địa lý Vũng Liêm là một huyện ở phía đông tỉnh Vĩnh Long (Việt Nam). Địa hình Vũng Liêm thuộc đồng bằng duyên hải. Điều kiện thuận lợi phát triển nền kinh tế nông nghiệp. Đồng thời Vũng Liêm là vùng sản xuất nhiều lúa gạo phẩm chất cao và gạo đặc sản.
Vũng Liêm có tổng diện tích tự nhiên là 309,57 km2, trung tâm huyện nằm cách trung tâm TP Vĩnh Long khoảng 35 km về phía Tây Bắc theo Quốc lộ 53. Tọa độ địa lý từ 09056’23” đến 10010’42” vĩ độ Bắc và từ 106004’11” đến 106017’23” kinh độ Đông. Vị trí giáp giới như sau: - Phía Đông và Đông Bắc giáp Tỉnh Bến Tre; - Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Tam Bình và Trà Ôn; - Phía Nam và Đông Nam giáp Tỉnh Trà Vinh; - Phía Bắc giáp huyện Mang Thít. Toàn huyện có 19 xã, 01 thị trấn với 168 ấp – khóm.
Diện tích tự nhiên 30.637 ha đất nông nghiệp, gần 80% hộ dân sống bằng nghề trồng lúa và vườn cây ăn trái, số còn lại kinh doanh thương mại, mua bán nhỏ và một số ngành nghề khác. Có 3 dân tộc cùng sinh sống gồm Kinh, Hoa, Khmer, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là người Kinh. Vũng Liêm có 2 sông lớn chảy qua đồng thời cũng là ranh giới huyện: sông Tiền (với 2 nhánh là sông Pang Tra, sông Cổ Chiên) và sông Mang Thít, đây là các tuyến giao thông thủy quốc gia và quốc tế của Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Vũng Liêm nói riêng. Về giao thông đường bộ có Quốc lộ 53 và đường tỉnh 901, 4 902, 906, 907 là các tuyến giao thông nối Vũng Liêm với các trung tâm kinh tế của tỉnh Vĩnh Long và trung tâm các tỉnh thành lân cận.
Giao thông đường bộ, đường thủy đều thuận lợi, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện. Hai xã cù lao Thanh Bình – Quới Thiện và vùng đất phù sa ven sông Cổ Chiên, sông Măng Thít có nước ngọt quanh năm, là điều kiện lý tưởng để trồng cây ăn quả, nuôi thủy sản và hình thành các điểm du lịch sinh thái miệt vườn kết hợp sản xuất TTCN và làng nghề truyền thống.2 Điều kiện địa hình, địa chất Địa hình huyện Vũng Liêm thuộc dạng địa hình đồng bằng do phù sa bồi đắp tạo nên, tương đối bằng phẳng, tiểu địa hình cao ở các xã ven sông Cổ Chiên và sông Măng Thít thấp dần về phía Nam của huyện, chia ra các cấp sau: Vùng có cao trình < 0,6 m chiếm 0,07% diện tích đang sử dụng, phân bố ở xã Hiếu Thành; Vùng có cao trình từ 0,6 - 0,8m chiếm 7,11% diện tích đang sử dụng, phân bố nhiều ở 2 xã Hiếu Thành và xã Hiếu Nghĩa và phần ít ở các xã còn lại; Vùng có cao trình từ 0,8 - 1,0 m chiếm 21% diện tích đang sử dụng, phân bố ở các xã Trung Thành, Trung Thành Đông, Trung Ngãi, Trung Thành Tây, Hiếu Phụng, Hiếu Thuận, Hiếu Thành, Hiếu Nhơn, Hiếu Nghĩa, Tân Quới Trung và xã Tân An Luông; Vùng có cao trình từ 1,0 - 1,2 m chiếm 44,61% diện tích đang sử dụng, phân bố tập trung ở các xã Trung Hiếu, Trung Thành, Trung Ngãi, Trung Nghĩa, Trung Thành Tây, Thị Trấn, Trung An, Trung Chánh, Trung Hiệp, Quới An và một phần ở Thanh Bình, Quới Thiện và xã Tân An Luông; Vùng có cao trình từ 1,2 - 1,4 m chiếm 24,43% diện tích đang sử dụng, phân bố các xã Thanh Bình, Quới Thiện, Quới An, Trung Hiệp, Trung Thành, Thị Trấn, Trung Thành Tây, Trung Thành Đông, Trung Chánh và xã Tân Quới Trung; Vùng có cao trình từ 1,4 - 2,0 m chiếm 2,78% diện tích đang sử dụng, chỉ có ở Thị Trấn Vũng Liêm khu vực đất giồng cát. Khí hậu Vũng Liêm có đặc điểm cũng như toàn tỉnh Vĩnh Long nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng, ẩm, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào. Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình của tỉnh Vĩnh Long qua các năm biến động từ 27,3 – 28,40C, trong đó cao nhất là năm 2010.
Trong năm này, nhiệt độ trung bình các tháng xấp xỉ hoặc cao hơn trung bình nhiều năm từ 0,4-1,00C. Nhiệt độ cao nhất là 36,90C, thấp nhất là 17,70C và biên độ nhiệt giữa ngày và đêm bình quân là 7,300C. Bức xạ trên địa bàn tỉnh tương đối cao, bình quân số giờ nắng trong một ngày là 7,5 giờ. Bức xạ quang hợp hàng năm đạt 79.
Thời gian chiếu sáng bình quân năm đạt 2. Nhiệt độ và bức xạ dồi dào là điều kiện cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Độ ẩm không khí bình quân 81-85%, trong tháng 9, độ ẩm đạt cao nhất là 90% và tháng thấp nhất là 74% (tháng 3,4). Số ngày mưa bình quân trong năm là 100 – 115 ngày với lượng mưa trung bình 1.
Lượng mưa ở mùa khô xấp xỉ và cao hơn trung bình nhiều năm nhưng lượng mưa mùa mưa lại xấp xỉ và thấp hơn trung bình nhiều năm. Nhìn chung, trong các tháng mùa mưa, lượng mưa tháng ở hầu hết các nơi trong tỉnh chỉ từ 35 - 50%, thấp hơn so với trung bình nhiều năm. Tỉnh Vĩnh Long qua các năm không có các dạng khí hậu cực đoan mặc dù ở một vài nơi có xuất hiện lốc xoáy, ngập lũ, sét đánh vào mùa mưa hoặc mưa trái mùa trên diện rộng, ảnh hưởng áp thấp nhiệt đới biển Đông gây mưa nhiều ngày.4 Điều kiện thủy văn Huyện Vũng Liêm cũng như tỉnh Vĩnh Long chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông thông qua 2 sông lớn là sông Tiền và sông Hậu cùng với sông Mang Thít và hệ thống kênh rạch. Cụ thể: Sông Cổ Chiên là nhánh của sông Tiền, có chiều dài 90 km, đoạn đi qua Vĩnh Long mặt cắt sông rộng trung bình 1.700 m, độ sâu 7 – 10 m, lưu lượng dao 6 động từ 1.
Sông Hậu là nhánh lớn thứ hai của sông Mêkông chảy qua địa phận Việt Nam với chiều dài khoảng 75 km, lưu lượng bình quân dao động từ 1. Sông Măng Thít nối sông Tiền và sông Hậu, cửa sông ở phía sông Tiền lớn hơn phía sông Hậu. Do tác động của triều cường từ sông Cổ Chiên và sông Hậu, sông Mang Thít chảy theo hai chiều nước vào và ra ở hai cửa sông, cụ thể khi triều cường lên nước chảy vào từ hai cửa sông Quới An và Trà Ôn; khi triều cường xuống nước sông chảy ra từ 2 cửa trên, vùng giáp nước 2 chiều là cửa Ba Kè (ngã ba Thầy Hạnh) cách sông Hậu 17 km. Sông Măng Thít không bị ảnh hưởng mặn nên có nước ngọt quanh năm, thuận lợi cho quá trình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân địa phương.
Tuy nhiên do cao trình đất ở vùng phía Bắc sông Măng Thít thấp trũng nên vấn đề thoát nước sẽ khó hơn. Mực nước và biên độ triều trên các sông khá cao, cường độ triều truyền mạnh, vào mùa lũ biên độ triều khoảng 70 - 90 cm và vào mùa khô, biên độ triều dao động 114 – 140 cm, kết hợp với hệ thống kênh mương nội đồng nên có khả năng tưới tiêu tự chảy tốt, giúp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển. Thời tiết, khí hậu khá thuận lợi cho nông nghiệp theo hướng đa canh, thâm canh tăng vụ và thích hợp cho đa dạng sinh học tự nhiên phát triển. Tuy nhiên, do lượng mưa chỉ tập trung vào 6 tháng mùa mưa cùng với nguồn nước lũ từ khu vực thượng nguồn của sông MêKông tạo nên những khu vực bị ngập úng cục bộ, ảnh hưởng đối với sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân và môi trường sinh thái khu vực.
Phân loại đất ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.1: Bản đồ các nhóm đất ở ĐBSCL Sự phân bố và diện tích phân bố các nhóm đất chính ở đồng ĐBSCL được phân ra thành 10 nhóm đất chính: Bảng 1.1: Diện tích các nhóm đất chính của ĐBSCL năm 2009 [21] STT Nhóm đất chính Ký hiệu Diện tích (ha) 1 Albeluvisols AB 19.195,6 8 STT Nhóm đất chính Ký hiệu Diện tích (ha) 9 Plinthosols PT 133.606,8 Nhóm Albeluvisols (AB): Là nhóm đất có tầng chẩn đoán Argic trong vòng 100 cm từ lớp đất mặt với đặc tính Albeluvic tonguing ở ngay phía trên ranh giới của tầng này. Albeluvisols là nhóm đất có sự trực di của các vật liệu chứa sắt và sét xuống tầng Argic. Ở nhóm đất này các đặc tính về hình thái của sự oxy hóa khử như đặc tính stagnic thì không hiện diện, đất có màu của tầng Albic. Nhìn chung đây là nhóm đất có hàm lượng mùn thấp, phản ứng chua, độ no base và dung tích hấp thu thấp.
Nhóm Arenosols (AR): Theo FAO-WRB (2006), Arenosols là nhóm đất cát, gồm cả đất cát phát triển trên nền giàu thạch anh và đá, đất này phát triển do sự lắng tụ của cát hiện tại như là những cồn cát và ven biển. Nhóm đất này chủ yếu là đất cát giồng, hình thành do sự bồi lắng phù sa biển kết hợp với những cồn cát thấp, dưới tác động của quá trình hoạt động bờ biển của sông tạo thành các dãy đất song song so với bờ biển. Nhóm Alisols (AL): Là đất chứa lượng sét cao trong tầng cái hơn tầng đầu, có tầng argic trong vòng 100 cm tầng mặt, là kết quả tiến trình hình thành đất ảnh hưởng đến tầng argic. Alisols có độ bão hòa base thấp ở độ sâu nhất định và sét hoạt động cao khắp tầng argic.
Alisols là nhóm đất tích lũy nhôm, do quá trình thủy phân các khoáng chứa nhôm. Đây là nhóm đất chứa acid mạnh tích lũy và hoạt động trong khoáng sét của đất, trong đất chiếm hơn 50% Al3 + bão hòa. Nhóm Fluvisols (FL): Đây là loại đất có các đặc tính fluvic và không có tầng chẩn đoán nào khác hơn là tầng mollic, umbric, hay tầng histic, hay vật liệu sulfidic trong vòng 125 cm lớp đất mặt và có đặc tính fluvic. Đây là nhóm đất phù sa phổ biến ở các tam giác châu và đồng bằng ven biển ngoại trừ các nhóm đất cát biển.
Đất mặn theo WRB có tên là Salic-Fluvisols, tùy khu vực mà có tính hyposalic - Fluvisols (mặn nhiều) hay mặn ít, hoặc mặn xuất hiện cạn (episalic - 9 Fluvisols) hay xuất hiện sâu. Nhóm Gleysols (GL): Tầng mặt dày, dinh dưỡng khá, có dấu tích phù sa bồi xuất hiện trong vòng 50 cm lớp đất mặt.