Chương 1: Tổng quan về điều kiện tự nhiên và mạng lưới giao thông vận tải của tỉnh Bình Phước. Chương 2: Tổng quan về các loại mặt đường sử dụng vật liệu gia cố chất liên kết vô cơ. Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm và khả năng sử dụng cấp phối đá dăm gia cố xi măng trong xây dựng đường ô tô. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ MẠNG LƢỚI GIAO THÔNG VẬN TẢI CỦA TỈNH BÌNH PHƢỚC 1.
Giới thiệu chung Bình Phƣớc là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 121km theo Quốc lộ 13 và Quốc lộ 14, cách 102km theo đƣờng Tỉnh lộ 741. Tỉnh Bình Phƣớc là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm về phía Nam có 240km đƣờng biên giới với Vƣơng quốc Campuchia, trong đó có 3 tỉnh biên giới gồm Tbong, Khmum, Kratie, Mundulkiri, tỉnh là cửa ngõ đồng thời là cầu nối của vùng với Tây Nguyên và Campuchia. Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Bình Phƣớc đạt gần 905.300 ngƣời, mật độ dân số đạt 132 ngƣời/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 152.100 ngƣời, dân số sống tại nông thôn đạt 753. Dân số nam đạt 456.900 ngƣời, trong khi đó nữ đạt 448.
Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phƣơng tăng 13,7 ‰. Trên địa bàn tỉnh giao thông đƣợc thông suốt nối trong và ngoài tỉnh, hầu hết đƣợc nhựa hóa. Với các tuyến đƣờng chính nhƣ Quốc lộ 13 từ cầu Tham Rớt đi theo hƣớng Nam – Bắc qua trung tâm huyện Chơn Thành, huyện Bình Long đến cửa khẩu Hoa Lƣ với tổng chiều dài là 79,90 km, Quốc lộ 14 nối các tỉnh Tây Nguyên qua Bình Phƣớc về Thành phố Hồ Chí Minh với 112,70 km. Ngoài ra, các tuyến đƣờng khác nhƣ tỉnh lộ 741 kết nối trung tâm tỉnh với các huyện Đồng Phú, huyện Phƣớc Long, các tuyến đƣờng liên huyện đã đƣợc láng nhựa, gần 90% đƣờng đến trung tâm các xã đã đƣợc láng nhựa, các tuyến đƣờng nối với Tây Ninh, Lâm Đồng đƣợc láng nhựa rất thuận tiện cho giao thông.
Đƣờng nối với tỉnh Đồng Nai cũng đƣợc nâng cấp mở rộng. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của tình Bình Phƣớc 1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên khu vực Bình Phước Bình Phƣớc mang đặc trƣng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa, có 2 mùa rõ rệt: mùa mƣa và mùa khô. Nhiệt độ bình quân trong năm cao đều và 4 ổn định từ 25,8 - 26,20C.
Nhiệt độ bình quân thấp nhất 21,5 - 220C. Nhiệt độ bình quân cao nhất từ 31,7 - 32,20C. Nhìn chung sự thay đổi nhiệt độ qua các tháng không lớn, song chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm thì khá lớn, khoảng 7 đến 90C nhất là vào các tháng mùa khô. Nhiệt độ cao nhất vào các tháng 3,4,5 (từ 37-37,20C) và thấp nhất vào tháng 12 là 190C.
Tổng số giờ nắng trong năm từ 2400 - 2500 giờ. Số giờ nắng bình quân trong ngày từ 6,2 - 6,6 giờ. Thời gian nắng nhiều nhất vào tháng 1,2,3,4 và thời gian ít nắng nhất vào tháng 7,8,9. Lƣợng mƣa bình quân hàng năm biến động từ 2045 - 2325 mm.
Mùa mƣa diễn ra từ tháng 5 - 11, chiếm 85-90% tổng lƣợng mƣa cả năm, tháng có lƣợng mƣa lớn nhất 376mm (tháng 7). Mùa khô từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 5 năm sau, lƣợng mƣa chỉ chiếm 10 - 15% tổng lƣợng mƣa cả năm, tháng có lƣợng mƣa ít nhất là tháng 2,3. Lƣợng bốc hơi hàng năm khá cao từ 1113 - 1447mm. Thời gian kéo dài quá trình bốc hơi lớn nhất vào tháng 2,3,4.
Độ ẩm trung bình hàng năm từ 80,8 - 81,4%. Bình quân năm thấp nhất là 45,6 - 53,2%, tháng có độ ẩm cao nhất là 88,2%, tháng có độ ẩm thấp nhất là 16%. Đặc điểm về tình hình kinh tế - xã hội Bình Phƣớc là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ có diện tích 6.871,5km2, chiếm 2,068 % diện tích tự nhiên cả nƣớc và chiếm 29,12 % diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ.300 ngƣời, mật độ dân số đạt 132 ngƣời/km² (theo số liệu thống kê năm 2011), gồm nhiều dân tộc khác nhau (đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 17,9 %) sinh sống trên địa bàn 111 xã, phƣờng, thị trấn (92 xã, 14 phƣờng và 5 thị trấn) thuộc 8 huyện, 3 thị xã. Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thị xã Đồng Xoài - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; thị xã Bình Long, thị xã Phƣớc Long; huyện Bù Đăng; huyện Bù Đốp; huyện Bù Gia Mập; huyện Chơn Thành; huyện Đồng Phú, huyện Hớn Quản; huyện Lộc Ninh; huyện Phú Riềng.
Tỉnh Bình Phƣớc tiếp giáp với các vùng sau: - Phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai. - Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia. 5 - Phía Nam giáp tỉnh Bình Dƣơng. - Phía Bắc giáp tỉnh Đắk Nông và Campuchia Tốc độ tăng trƣởng GDP của tỉnh Bình Phƣớc bình quân hàng năm đạt 10,8%.
Tổng giá trị sản phẩm trong tỉnh năm 2015 đạt 10.150 tỷ, tăng 1,67 lần so với năm 2010 (giá so sánh năm 1994) và bình quân đầu ngƣời tăng từ 24 triệu đồng năm 2010 lên 39,8 triệu đồng năm 2015. Sản xuất nông nghiệp với hƣớng chủ đạo là trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê, điều, tiêu) cây ăn trái với tổng diện tích đạt 405.718 ha, tạo ra lƣợng giá trị lớn (năm 2015 giá trị sản xuất ƣớc đạt 8.567 tỷ đồng - theo giá so sánh năm 1994). Chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung quy mô lớn, cung cấp bổ sung cho nhu cầu thị trƣờng trong tỉnh và khu vực, đem lại nguồn thu nhập quan trọng cho ngƣời sản xuất. Đến nay, toàn tỉnh có 4.500 doanh nghiệp, 12 Khu công nghiệp, 30 Cụm công nghiệp.
So với đầu nhiệm kỳ tăng gấp 1,9 lần về số doanh nghiệp và 1,6 lần về vốn đầu tƣ. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 9.543 tỷ đồng, tăng 2,1 lần (theo giá so sánh 1994); tạo việc làm cho hơn 142. Tổng giá trị sản xuất của ngành thƣơng mại, dịch vụ năm 2015 đạt 5.820 tỷ đồng tăng gấp 1,84 lần so với năm 2010. Tổng mức lƣu chuyển hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội đạt 25.771 tỷ đồng, tăng 2,11 lần.
Xuất khẩu tăng mạnh với tổng kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, tăng 1,96 lần so với năm 2010. Thu ngân sách tăng qua từng năm (năm 2015 tăng gấp 1.35 lần so với đầu nhiệm kỳ). Dự kiến đến năm 2020 – 2025 sẽ có tuyến đƣờng sắt xuyên Á đi Cửa khẩu Hoa Lƣ với tuyến đƣờng sắt thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Nam bộ. Tuyến đƣờng xuyên Á sẽ nối với các nƣớc Campuchia, Lào, Myanma, Malaysia, Thái Lan thuận lợi cho lƣu thông hàng hóa và ngƣời qua lại giữa các nƣớc trong khu vực 1.
Chất lƣợng và trữ lƣợng vật liệu dùng trong xây dựng của tỉnh Bình Phƣớc [17] 1. Cao lanh (kaolin): Cao lanh hay đất cao lanh, kaolin là một loại đất sét màu trắng, bở, chịu lửa, với thành phần chủ yếu là khoáng vật kaolinit cùng 6 một số khoáng vật khác nhƣ illit, montmorillonit, thạch anh v. trong công nghiệp, cao lanh đƣợc sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, chẳng hạn nhƣ sản xuất đồ gốm sứ, vật liệu chịu lửa, vật liệu mài, sản xuất nhôm, phèn nhôm, đúc, chất độn sơn, cao su, giấy, xi măng trắng v. Hiện nay, các mỏ Cao lanh vẫn chƣa đƣợc khai thác triệt để các tính chất của Cao lanh, đa số dùng trong công nghiệp gốm, sứ.
Mặc dù các mỏ có trử lƣợng khá lớn nhƣng công suất khai thác chƣa cao, nguyên nhân do nguồn đầu ra thị trƣờng của sản phẩm từ cao lanh chƣa đƣợc rộng rãi, đa số dùng trong nƣớc và một phần xuất khẩu nên chƣa thúc đẩy doanh nghiệp đầu tƣ mạnh mẽ. Tuy nhiên, một số cơ sở khai thác, sản xuất cao lanh nhỏ lẻ tạo các ao hồ lớn sau khi khai thác, làm ngập úng vào mùa mƣa và khô hạn vào mùa khô nên gây không ít khó khăn cho ngƣời dân trồng trọt xung quanh khu vực.1: Một số mỏ Cao lanh trên địa bàn tỉnh Bình Phƣớc Loại Tên đơn vị khai Trữ lƣợng Stt Vị trí mỏ khoáng thác (m3) sản Cty TNHH khoáng An Khƣơng, Thanh An, 1 puzolan 12.534 sản Phú Miêng Hớn Quản Công ty CP xi măng Tà Thiết, xã Lộc Thành, 2 Đá vôi 55.000 Hà Tiên 1 Lộc Ninh Công ty CP Trung TT Chơn Thành, Chơn 3 Kaolin 2.000 Thành Thành Công tyTNHH 4 Minh Hƣng, Chơn Thành Kaolin 3.100 KTKS KL Công ty TNHH SX - 5 Minh Long, Chơn Thành Kaolin 3.000 TM Hoàng Oanh Công ty CP KS & 6 Minh Long, Chơn Thành Kaolin 12.000 XD Bình Dƣơng 1. Sét gạch ngói, cát xây dựng [17] Tính chất hóa học của sét nung: khoáng alumosilicat ngậm nƣớc (nAl2O3.pH2O) chúng đƣợc tạo thành do fenspat bị phong hóa. Tùy theo điều kiện của từng môi trƣờng mà các khoáng tạo ra có thành phần khác nhau, khoáng caolinit 2SiO2.2H2O và khoáng montmorilonit 4SiO2.nH2O là hai khoáng quyết định những tính chất quan trọng của 7 đất sét nhƣ độ dẻo, độ co, độ phân tán, khả năng chịu lửa, …Ngoài ra trong đất sét còn chứa các tạp chất vô cơ và hữu cơ nhƣ thạch anh (SiO 2), cacbonat (CaCO3, MgCO3), các hợp chất sắt Fe(OH)3, FeS2, tạp chất hữu cơ dạng than bùn, bi tum,….Màu sắc của đất sét là do tạp chất vô cơ và hữu cơ quyết định.
Màu của đất sét chứa ít tạp chất thƣờng là trắng, chứa nhiều tạp chất thì đất sét có màu xám xanh, nâu, xám đen. Tính chất cơ lý chủ yếu của đất sét bao gồm tính dẻo khi nhào trộn với nƣớc, sự co thể tích dƣới tác dụng của nhiệt và sự biến đổi lý hóa khi nung. Chính nhờ có sự thay đổi thành phần khoáng vật trong quá trình nung mà sản phẩm gốm có tính chất khác hẳn tính chất của nguyên liệu ban đầu. Sau khi nung, thành phần khoáng cơ bản của vật liệu gốm là mulit 3Al2O3.2SiO2 (A3S2) đây chính là khoáng làm cho sản phẩm có cƣờng độ cao và bền nhiệt.2: Một số mỏ sét gạch ngói trên địa bàn tỉnh Bình Phƣớc Loại khoáng Trữ lƣợng Stt Tên đơn vị khai thác Vị trí mỏ sản (m3) Công ty CP Trung TT Chơn Thành, 1 Sét gạch ngói 2.611 Thành Chơn Thành Công ty TNHH Hồng xã Tân Khai, 2 Sét gạch ngói 338.250 Minh huyện Hớn Quản xã Thanh Lƣơng, 3 DNTN Hải Long Sét gạch ngói 1.734 thị xã Bình Long Hiện nay, trên địa bàn tỉnh còn tồn tại khá nhiều cơ sở sản xuất gạch ngói hotmen và tuynel nhỏ lẻ gây khó khăn cho công tác thống kê cũng nhƣ quản lý của cơ quan chức năng.