CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG RỖNG 1.Tổng quan về tình hình nghiên cứu bê tông rỗng 1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1.Lịch sử của bê tông rỗng Bê tông rỗng cũng được cho là bê tông không có cốt liệu nhỏ hay là bê tông có khoảng cách cụ thể. Bê tông rỗng được sử dụng ở các nước Châu Âu từ thế kỷ 19 (Francis, 1965). Ở Châu Âu, người ta đã sử dụng bê tông rỗng trong nhiều ứng dụng khác nhau, bao gồm dùng làm các tường chịu tải, tấm hay khối panel đúc tại chỗ. Bê tông rỗng được sử dụng sớm nhất trong lịch sử hiện đại là sử dụng làm 2 tòa nhà ở Anh.
Hơn 900 ngôi nhà được xây váo năm 1942. Hầu hết các nhà dùng bê tông rỗng ở Vương quốc Anh nằm ở thành phố United Kingdom (ACI 522 Pervious Concrete, 2006). Malhotra đã nghiên cứu về bê tông rỗng về các đặc tính và mối quan hệ giữa chúng. Ông cung cấp chi tiết về đặc tính, cường độ, thành phần cốt liệu, trọng lượng thể tích, tính đầm chặt, khả năng thấm nước của bê tông rỗng.
Malhotra cũng tiến hành nhiều thí nghiệm khác nhau để tìm mối liên quan giữa cường độ nén và đặc tính bất kỳ của vật liệu. Ông cũng kết luận rằng cường độ nén phụ thuộc vào tỷ lệ nước/ xi măng và tỷ lệ cốt liệu/xi măng (A/C) [15]. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, việc ứng dụng bê tông rỗng được lan rộng ra khắp thế giới đến các nước Châu Âu, Châu Phi, Venezuela, Trung Đông, và Úc. Bê tông rỗng thường không yêu cầu nhiều chất kết dính xi măng so với bê tông truyền thống, đây là một trong những động cơ thúc đẩy việc sử dụng loại vật liệu này.
Mặc dù bê tông rỗng có nhiều lợi ích mang lại song việc sử dụng loại vật liệu này còn hạn chế ở Bắc Mỹ (ACI 522 Pervious Concrete, 2006) do một số nhược điểm của nó. Gần đây, việc sử dụng bê tông rỗng ở Mỹ bắt đầu tăng lên. Đặc biệt ở một số tiểu bang như: Florida, Utah, và New Mexico được yêu cầu sử dụng để giảm lượng Trang 8 nước chảy tràn. California, Illinois, Oklahoma, và Wisconsin đã áp dụng bê tông rỗng cho nền ngấm nước và bó vỉa thoát nước.
Bê tông rỗng truyền thống không được sử dụng cho đường cao tốc và đường địa phương. Mặc dù bê tông rỗng thì đa năng, những mặt hạn chế của bê tông rỗng gây trở ngại cho việc thiết kế với tải trọng truyền thống, ở nơi đất có độ thấm thấp, nơi có xe tải nặng và mặt đường với vật liệu không thấm (U. Bê tông rỗng được sử dụng như là một thành phần nền thoát nước hay lớp vật liệu bên trên. Thêm vào đó, bê tông rỗng được dùng cho mặt đường cần có độ ma sát (ACI 522 Pervious Concrete, 2006), chủ yếu sử dụng ở mặt đường hạn chế tiếng ồn và khả năng thoát nước bề mặt cao (Sandberg và Ejsmont 2002; Beeldens và nnk., 2004; Nakahara và nnk.Vì chiều dày của lớp mặt bê tông rỗng mỏng nên nó có thể chống lại sự hình thành vệt bánh xe hơn là lớp bê tông asphalt rỗng, Bê tông rỗng được sử dụng để thay thế cho lớp mặt bê tông asphalt rỗng tại các khóa học ở Nhật để cài thiện tính an toàn và chất lượng cho người lái xe (Nakahara và nnk.
Những lợi ích của bê tông rỗng 1. Hạn chế tiếng ồn Bê tông rỗng có khả năng giảm tiếng ồn sinh ra bởi xe cộ trên mặt đường do tương tác giữa bánh xe với mặt đường. Bê tông rỗng hấp thụ âm thanh (Olek và nnk. Cụ thể hơn, các đặc tính của bê tông rỗng ảnh hưởng giữa bánh xe với mặt đường (ACI 522 Pervious Concrete, 2006).Vì vậy, bê tông rỗng có khả năng giảm tiếng ồn một cách đáng kể gây ra bởi xe cộ (Sandberg and Ejsmont, 2002).
Xây dựng các hàng rào để ngăn chặn tiếng ồn tại các khu đô thị sẽ tốn kém. Thay vào đó, xây dựng những mặt đường bê tông rỗng có thể giảm tiếng ồn và chi phí xây dựng (Nelson và Philips, 1994; Descornet, 2000). Chiều dày của lớp bê tông rỗng có liên quan chặt chẽ đến việc giảm tiếng ồn (Beeldens và nnk. Khả năng chống trơn trượt Bê tông rỗng có thể loại bỏ nước mưa một cách nhanh chóng hơn là bê tông thông thường (Schaefer và nnk., 2006) do có khả năng hấp thụ và thấm nhập nhanh Trang 9 chóng lượng nước mưa xuống dưới mặt đất.
Bằng cách giảm thiểu lượng nước trên bề mặt thì khả năng chống trơn trượt được cải thiện đáng kể. Giảm thiểu lượng nước chảy tràn Giảm lượng nước chảy tràn là một chức năng chính của bê tông rỗng. bê tông rỗng có chứa một lượng tối thiểu cốt liệu nhỏ và chứa các cốt liệu lớn cùng kích cỡ vì vậy lỗ rỗng được tồn tại để giữ và vận chuyển nước xuống bên dưới (Zouachi và nnk, 2000). Bê tông rỗng có thể làm giảm đáng kể lượng nước trên bề mặt so với bê tông thông thường.
Vì vậy, bê tông rỗng có thể làm giảm kích thước của cống thoát nước cần thiết (ACI 522 Pervious Concrete, 2006). Hệ sinh thái Bê tông rỗng có thể lọc các chất ô nhiễm trong nước mưa thấm xuống mặt đất. Do bê tông rỗng giúp hấp thụ được lượng nước, nó duy trì được nguồn nước ngầm tự nhiên (NRMCA, 2004). Bê tông rỗng giúp lượng nước thấm trực tiếp vào đất điều này mang lại lợi ích cho cây cối và bổ sung nguồn nước ngầm bên dưới.
Điều này giúp bảo tồn được nguồn tài nguyên quý giá này. Một số ứng dụng thường gặp Một số ứng dụng thường gặp của bê tông rỗng như sau: bãi đậu xe, hang hiên, sàn hồ bơi, lề bộ hành, bó vỉa thoát nước, mặt đường giảm ồn, giám chấn, giảm nước chảy tràn. Ngoài ra, bê tông rỗng còn ứng dụng trong các kết cấu đê biển, kè cầu… (Schaefer và nnk., 2006; ACI 522 pervious concrete, 2006; Tennis, 2004). Độ bền Độ bền của bê tông rỗng thì chịu ảnh hưởng đáng kể của khả năng thấm của vật liệu.
Vì bê tông rỗng tạo điều kiện cho độ ẩm lưu thông, điều này làm ảnh hưởng đến độ bền. Các vấn đề về độ bền không giống như bê tông thông thường vì khả năng thẩm thấu của bê tông rỗng khác bê tông thông thường. Cường độ chịu nén Malhotra năm 1976 đã nghiên cứu về cường độ nén phụ thuộc vào tỷ lệ nước/xi măng và tỷ lệ cốt liệu/xi măng. Mối quan hệ giữa cường độ nén và tỷ lệ Trang 10 nước/xi măng và tỷ lệ cốt liệu/xi măng trong thời gian 3,7 và 28 ngày được thể hiện như sau[15] Bảng 1.1: Mối quan hệ giữa cường độ nén và tỷ lệ nước/xi măng và cốt liệu/xi măng, (Malhotra,1976) Tỷ lệ cốt Tỷ lệ Trọng Tuổi bê Xi măng Cường độ liệu/xi nước/xi lượng tông(ngày) 3 (lb/yd3) nén(psi) măng măng riêng(lb/ft ) 3 125.
Mối quan hệ giữa cường độ nén và tỷ lệ nước/xi măng và cốt liệu/xi măng (Malhotra,1976) Trang 11 Mặc dù bê tông rỗng có thể sử dụng trong nhiều ứng dụng, nhược điểm chủ yếu của nó là cường độ chịu nén thấp. Vì lớp dính kết giữa các cốt liệu mỏng, nó không thể cung cấp đầy đủ cường độ chịu nén như bê tông thông thường. Vì vậy, việc sử dụng bê tông rỗng bị hạn chế ở mặt đường cao tốc. Thay vào đó, bê tông rỗng được ứng dụng nhiều ở bãi đậu xe, nơi mà không yêu cầu cường độ chịu nén cao.
Để mở rộng ứng dụng của bê tông rỗng bằng cách làm tăng cường độ chịu nén thì cần phải xem xét đến một số yếu tố như là cường độ của chất kết dính, chiều dày của chất kết dính bao bọc quanh các hạt cốt liệu, và mặt liên kết giữa chất kết dính và cốt liệu. Sử dụng cốt liệu nhỏ hơn và phụ gia được đề nghị đề tăng cường độ chịu nén của bê tông rỗng (JingYang, Guoliang Jiang, 2002 và Schaefer và nnk. Cụ thể hơn, cường độ chịu nén của bê tông có quan hệ với nhiều yếu tố như: độ rỗng, trọng lượng thể tích, tỷ lệ Nước/ Xi măng , kích cỡ cốt liệu…[9] 1. Độ rỗng Schaefer đã nêu ra mối quan hệ giữa cường độ chịu nén sau 7 ngày và độ rỗng.
Cường độ chịu nén sau 7 ngày của bê tông rỗng tuyến tính với việc giảm độ rỗng: Trang 12 Hình 1. Mối quan hệ giữa cường độ nén sau 7 ngày và độ rỗng (Schaefer và nnk. Trọng lượng thể tích Malhotra(1976) đã đưa ra mối quan hệ giữa cường độ nén và trọng lượng thể tích khi sử dụng tỷ lệ cốt liệu/xi măng (A/C) với nhiều loại cấp phối khác nhau. Mối quan hệ đó được thể hiện như sau[15]: Hình 1.
Mối quan hệ giữa cường độ nén 28 ngày và trọng lượng thể tích, (Malhotra,1976) Trang 13 Meininger (1988) đã tiến hành điều tra mối quan hệ giữa cường độ nén sau 28 ngày với trọng lượng thể tích. Mối quan hệ này được thể hiện như sau: Hình 1. Mối quan hệ giữa cường độ chịu nén sau 28 ngày và trọng lượng thể tích (Meininger (1988). Tỷ lệ nước/xi măng Meininger (1988) đã nêu ra tỷ lệ nước/xi măng mang lại cường độ nén cao nhất và thấp nhất.
Cả hai trượng họp tỷ lệ nước/xi măng thấp nhất và cao nhất đều làm cho cường độ nén thấp hơn mức trung bình. Mối quan hệ giữa cường độ chịu nén và tỷ lệ N/XM, (lượng xi măng =239 kg/m3), Meininger (1988). Cát Hỗn hợp bao gồm 10-20% cát sẽ giúp cải thiện được cường độ nén. Lượng cát lấp đầy lỗ rỗng sẽ giúp tăng cường độ và độ nén: Hình 1.
Mối quan hệ giữa hàm lượng cát và cường độ chịu nén trong bê tông rỗng, Meininger (1988). Kích cỡ cốt liệu Kích cỡ cốt liệu thô trong bê tông rỗng thường bao gồm 1 hỗn hợp cùng kích cỡ hoặc là kích thước cốt liệu từ 3/4 – 3/8 in (9. Mặc dù phạm vi kích thước cốt liệu thô bị hạn chế, Schaefer và nnk, (2006) đã mô tả ngắn gọn ảnh hưởng của cường độ chịu nén và kích cỡ kích cỡ cốt liệu như sau: Hình 1. Mối quan hệ giữa kích cỡ cốt liệu thô và cường độ chịu nén của bê tông rỗng, Schaefer và nnk, (2006).
Khả năng thẩm thấu Đặc điểm để phân biệt của bê tông rỗng là có độ thấm cao, nó là khả năng dễ dàng cho chất lỏng thoát qua lớp vật liệu dưới 1 áp lực. Độ rỗng của bê tông rỗng thường từ 14% - 31% và khả năng thẩm thấu từ 0.609 cm/sec, Schaefer và nnk, (2006). Khi độ rỗng tăng thì khả năng thấm cũng tăng. Thể hiện trong bảng sau: [9] Trang 16 Hình 1.
Mối quan hệ giữa độ rỗng và mức độ thẩm thấu, Schaefer và nnk.