Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt F. de Saussure đã từng viết: “… từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh tư tưởng chúng ta như một cái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ, mặc dù khái niệm này khó định nghĩa” [dẫn theo 20, tr.
Vấn đề về từ tiếng Việt đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu. Trong đó, phải kể đến một số tác giả lớn như Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Lê Quang Thiêm, Đỗ Việt Hùng, Hà Quang Năng… Từ những nghiên cứu về từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, trong những công trình gần đây, xuất hiện một hướng quan tâm khác là tìm hiểu chuyên sâu về một hệ thống từ ngữ gắn một đối tượng cụ thể, trong đó có hướng nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt. Hướng nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt được các tác giả tập trung khai thác ở một số nhóm như: từ ngữ chỉ người, từ ngữ chỉ động thực vật, từ ngữ chỉ đồ vật, từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội… Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: Đặc điểm danh học và ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ chỉ “sự kết thúc cuộc đời của con người (Nguyễn Đức Tồn, 1994), Nghĩa của thành ngữ có thành tố chỉ vật thể hiện tượng tự nhiên trong tiếng Việt (Chu Thị Hảo, 1995), Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa tên gọi động vật (trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga (Nguyễn Thúy Khanh, 1996), Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt (Phạm Tất Thắng, 1996), Mô hình các từ ghép và ngữ định danh chỉ y phục của người Việt xét về mặt cấu tạo và ngữ nghĩa (Lê Thị Hà, 1998), Từ ngữ gọi tên các công cụ trong tiếng Nghệ Tĩnh (Hoàng Trọng Canh, 2008), Trường từ vựng chỉ không gian trong tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận (Trần Thị Mai, 2010), Từ ngữ nghề gốm Thổ Hà (Nguyễn Văn An, 2011), 6 Trường từ vựng về con người Tây Nguyên trong sáng tác của nhà văn Nguyên Ngọc (Nguyễn Thị Thu Hiền, 2011), Trường từ vựng - ngữ nghĩa món ăn và ý niệm CON NGƯỜI (Đặng Thị Hảo Tâm, 2011), Từ ngữ nghề mộc ở Đạt Từ, Hoằng Hóa, Thanh Hóa (Nguyễn Phương Anh, 2012), Định danh sự vật liên quan đến sông nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong phương ngữ Nam Bộ (Trịnh Sâm, 2013), Định danh sự vật liên quan đến sông nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong phương ngữ Nam Bộ (Hồ Xuân Tuyên, 2013), Đặc điểm các nhóm từ chỉ sông nước trong tiếng Việt ở Nam Bộ (Tăng Tấn Lộc, 2014), Trường từ vựng động vật trong truyện đồng thoại Việt Nam (Nguyễn Thị Bạch Dương, 2015)… Có thể thấy, nghiên cứu về từ ngữ chỉ người là nội dung nghiên cứu được nhiều tác giả tìm hiểu. Các tác giả thường dành sự quan tâm của mình khi nghiên cứu về lớp từ chỉ tên người (Phạm Tất Thắng) hay các từ ngữ chỉ sự kết thúc cuộc đời của con người (Nguyễn Đức Tồn) hoặc các từ ngữ gọi tên các bộ phận cơ thể con người (Đặng Thị Hảo Tâm) … Ngoài ra, vấn đề về từ ngữ chỉ động vật, thực vật cũng được các tác giả đề cập đến.
Tác giả Nguyễn Thị Bạch Dương đã thống kê, phân loại và xác lập được các tiểu trường thuộc trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ động vật khi tìm hiểu về truyện đồng thoại Việt Nam. Tác giả cũng đã chỉ ra những giá trị nổi bật của trường từ vựng ngữ nghĩa này trong truyện đồng thoại ở các phương diện như phát triển ngôn ngữ, phát triển nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ cho trẻ em. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ đồ vật, hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội cũng là nội dung thu hút các nhà nghiên cứu. Các từ ngữ chỉ nghề nghiệp cũng nhận được sự quan tâm của giới ngôn ngữ học.
Nguyễn Văn An đã tiến hành thống kê, phân loại và phân tích các đặc điểm của từ ngữ chỉ nghề gốm. Từ đó, tác giả cũng đã chỉ ra được những nét đặc trưng văn hóa của người dân vùng Kinh Bắc. Đặng Thị Hảo Tâm có cách tiếp cận khác khi tìm hiểu về trường từ vựng - ngữ nghĩa món ăn, đã thống kê, khảo sát và phân loại các món ăn dựa trên những ý niệm về con người. 7 Vẫn là hướng nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt, một số tác giả lại tập trung đi sâu vào việc phân tích đối sánh giữa một nhóm từ tiếng Việt và một nhóm từ tương ứng trong các ngôn ngữ khác.
Qua đó, có thể cho thấy được sự khác biệt về đặc trưng văn hóa dân tộc và tư duy ẩn đằng sau những ngôn ngữ đó. Chănphômmavông khảo sát về đặc điểm định danh và hiện tượng chuyển nghĩa trong trường từ vựng tên gọi các bộ phận con người tiếng Lào (có xem xét trong mối quan hệ với tiếng Việt). Phan Văn Quế nghiên cứu về ngữ nghĩa của thành ngữ - tục ngữ có thành tố chỉ động vật trong tiếng Anh (trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt). Nguyễn Thanh Tùng tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của nhóm từ chi động thực vật tiếng Việt (có so sánh với tiếng Anh).
Nguyễn Thế Truyền lại so sánh để tìm ra sự khác biệt về định danh sự vật giữa tiếng Việt và tiếng Hàn. Ông cho rằng số lượng yếu tố khu biệt trong định danh sự vật giữa tiếng Việt và tiếng Hàn rất đa dạng thể hiện đặc trưng về màu sắc cơ thể, hình dạng, môi trường sống, tiếng kêu/ hót của động vật. Từ đó, ông phân tích sự khác biệt sâu sắc trong đặc trưng văn hóa dân tộc của tiếng Việt và tiếng Hàn trong cách định danh sự vật. Nguyễn Ngọc Vũ phân tích thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận.
Như vậy, có thể thấy, các công trình nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt đã được khai thác ở nhiều nội dung khác nhau từ phương diện lí thuyết thuần túy trong sự tiếp cận với nhiều lí thuyết ngôn ngữ học cho đến nguồn ngữ liệu thực tiễn. Những nghiên cứu này chủ yếu đi theo hướng tìm hiểu nghĩa biểu trưng của tên gọi sự vật hoặc tìm hiểu đặc điểm tri nhận của con người thông qua một số trường cụ thể. Đây cũng là những cơ sở để luận văn nghiên cứu tìm hiểu về hệ thống từ ngữ chỉ sự vật trong một tác phẩm văn học, cụ thể là tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm. Tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm và ngôn ngữ trong tác phẩm Lê Khâm là một trong những nhà văn xuất sắc viết về đề tài chiến tranh cách mạng.
Ông đã gắn bó mật thiết, sống và hi sinh cho cách mạng, cho đất nước; góp phần xứng đáng vào thành tựu chung của nền văn học cách mạng Việt Nam. Đã có nhiều bài viết về Lê Khâm và đề tài chiến tranh trong tác phẩm của ông. Có thể kể đến một số bài viết như: Phan Tứ (Lê Khâm) (Lê Thị Đức Hạnh), Phan Tứ với những tiểu thuyết viết về chiến tranh (Trần Đăng Suyền), Phan Tứ - vài suy nghĩ nhỏ về những trang viết chiến tranh (Trần Ngọc Tuấn). Lê Thị Đức Hạnh đã cho rằng Lê Khâm thật sự say sưa khi viết về quân tình nguyện Việt Nam và tinh thần bất khuất của quân dân Lào.
Những trang viết của Lê Khâm đã làm hiện lên một chiến trường đầy cam go, thử thách, gian khổ, ác liệt nhưng cũng vô cùng anh dũng, can trường. Trần Đăng Suyền giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về Lê Khâm khi viết “hạt nhân cơ bản chi phối toàn bộ sáng tác của Phan Tứ là quan niệm của anh về chiến tranh, về con người trong chiến tranh cách mạng”. Trần Ngọc Tuấn thì lại khẳng định trong bài viết của mình rằng Lê Khâm là một trong số ít nhà văn đi đến cùng với những đề tài chiến tranh và cách mạng. Điều đó được Lê Khâm đi bằng “chính cuộc đời đầy nhiệt huyết của mình”.
Nhà văn Lê Khâm được Mai Hương trong bài viết Phan Tứ - nhà văn chiến sĩ nhận xét ông là một trong những tác giả khá thành công về đề tài kháng chiến chống Pháp, đặc biệt với tiểu thuyết Trước giờ nổ súng. Về nội dung của Trước giờ nổ súng, Phong Lê trong bài viết Mấy vấn đề văn xuôi Việt Nam 1945 - 1970 đã nhận định “Trong Trước giờ nổ súng, Lê Khâm miêu tả những gian khổ của một đơn vị tình nguyện quân chiến đấu trên đất Lào. Nhà văn cho ta thấy khung cảnh của đất nước Lào, ca ngợi mối tình hữu nghị của nhân dân hai dân tộc Việt Lào”. Hữu Hồng trong bài viết Trước giờ nổ súng của Lê Khâm 9 cũng nhận xét: “chủ đề chính trong tác phẩm là phẩm chất anh hùng của những người chiến sĩ cách mạng không phân biệt Lào hay Việt”.
Trong bài viết Không gian - thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Trước giờ nổ súng của Phan Tứ, Phạm Ngọc Hiền cho rằng: “Phan Tứ đã chú trọng xây dựng loại không - thời gian cản trở với chức năng thử thách nhân vật. Cả không gian lẫn thời gian đều cộng hưởng nhau gây sức ép lên các hoạt động nhân vật, để từ đó sàng lọc, chỉ giữ lại những anh hùng lí tưởng theo quan điểm cách mạng”. Có thể thấy, Trước giờ nổ súng của Lê Khâm đã được các tác giả quan tâm nghiên cứu nhưng xét về phương diện ngôn ngữ nghệ thuật thì chưa có nhiều công trình nghiên cứu hay bài viết. Luận văn Thạc sĩ Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Lê Khâm qua Bên kia biên giới và Trước giờ nổ súng của Bùi Thị Lệ Huyền cũng mới dành dung lượng một chương để tìm hiểu về những phương thức nghệ thuật nổi bật trong Bên kia biên giới và Trước giờ nổ súng.
Trong đó, Bùi Thị Lệ Huyền có nhắc đến không gian, thời gian nghệ thuật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm. Ngôn ngữ sử dụng trong tác phẩm được Bùi Thị Lệ Huyền nhận xét là sử dụng hợp lí phương ngữ và tiếng nước ngoài. Lời ăn tiếng nói của con người miền Trung Việt Nam đi vào tiểu thuyết rất tự nhiên.