CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Như đã trình bày ở phần lịch sử nghiên cứu vấn đề, có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các quan điểm khác nhau về câu tiếng Việt, đặc biệt là câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp, trong đó có câu đặc biệt. Trong khuôn khổ của luận văn, tôi nhận thấy các quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban trong giáo trình “Ngữ pháp tiếng Việt” (Nhà xuất bản Giáo dục năm 2017) là đầy đủ và sâu sắc nhất. Toàn bộ các nội dung nghiên cứu của luận văn sẽ bám sát, đi theo các quan điểm về câu của tác giả Diệp Quang Ban. Lí thuyết về câu 1.
Khái niệm câu Là một trong những nhà ngôn ngữ học tiên phong đi theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, tác giả Diệp Quang Ban trong “Câu đơn tiếng Việt” (NXB Giáo dục Hà Nội, 1987) đã đưa ra khái niệm “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ. Có thể nói, khái niệm về câu của tác giả Diệp Quang Ban là đầy đủ nhất và đã nêu ra được những đặc trưng cơ bản của câu tiếng Việt trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học. Phân loại câu tiếng Việt theo cấu tạo ngữ pháp Trong “Ngữ pháp tiếng Việt” – 2000, tác giả Diệp Quang Ban thống nhất chia câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp thành 3 kiểu: Câu Câu đơn Câu phức Câu ghép 11 a.
Câu đơn * Khái niệm câu đơn Là câu chỉ có 1 kết cấu chủ ngữ - vị ngữ và kết cấu chủ ngữ - vị ngữ ấy đóng vai trò nòng cốt câu. * Phân loại câu đơn Câu đơn được chia thành các tiểu loại: Câu đơn bình thường: là câu đơn có một cụm C-V duy nhất làm nòng cốt câu. Câu đơn hai thành phần chiếm vị trí trung tâm và chủ yếu của việc miêu tả ngữ pháp về câu. Câu đơn bình thường lại có hai tiểu loại câu đơn bình thường không mở rộng và câu đơn bình thường mở rộng.
Câu đơn bình thường mở rộng gồm: - Câu đơn mở rộng nòng cốt: thành phần phụ của câu: là câu đơn có chứa thành phần phụ của câu. Trong đó, thành phần phụ của câu là thành phần ngữ pháp phụ thuộc vào toàn bộ nòng cốt câu và có tác dụng mở rộng nòng cốt câu để bổ sung những chi tiết cần thiết cho nòng cốt câu. - Câu đơn mở rộng thành phần câu/thành phần phụ của từ: là câu đơn có chứa thành phần phụ của từ. Trong đó thành phần phụ của từ là từ ngữ phụ thêm vào một từ hay một cụm từ đang giữ một chức vụ ngữ pháp nào đó trong câu (kể cả trung tâm cú pháp chính của câu đơn đặc biệt).
Câu đơn đặc biệt: là kiến trúc có một trung tâm cú pháp chính (có thể thêm trung tâm cú pháp phụ), không chứa hay không hàm ẩn một trung tâm cú pháp thứ hai có quan hệ với nó như là quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ. Luận văn nghiên cứu về câu đặc biệt vị từ nên sẽ trình bày kiểu câu đặc biệt trong riêng 1 mục 1. Câu phức * Khái niệm câu phức Câu phức là câu chứa hai hoặc hơn hai kết cấu chủ-vị, trong số đó chỉ có một kết cấu chủ -vị nằm ngoài cùng bao các kết cấu chủ-vị còn lại, các kết cấu chủ-vị còn lại bị bao bên trong kết cấu chủ-vị đó. 12 Nói khác đi, câu phức là câu có từ hai kết cấu chủ-vị trở lên, trong đó chỉ có một kết cấu chủ-vị làm nòng cốt câu, các kết cấu chủ-vị còn lại giữ vai trò thành phần nào đó bên trong nòng cốt câu.1) Cây này lá vàng.
Câu này được phân tích cú pháp như trong Hình 1. Cây này lá vàng. Chủ ngữ Vị ngữ Chủ ngữ Vị ngữ Hình 1. Phân tích cú pháp câu phức (1), có vị ngữ là cụm chủ-vị bị bao * Các kiểu câu phức thường gặp.
Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, các dạng hiện thực của câu phức khá phong phú, sau đây là ví dụ về một số kiểu thường gặp: - Câu phức có chủ ngữ là kết cấu chủ-vị (1.2) Chuột chạy làm vỡ đèn. Vai nghĩa của chủ ngữ ở đây là động thể, do một sự việc đảm nhiệm. - Câu phức có vị ngữ là kết cấu chủ-vị (1.3) Thứ vải này mỗi mét (là) mười ngàn đồng. - Câu phức có bổ ngữ là cụm chủ-vị.4) Bọn trẻ đang xem hai con gà chọi nhau.
- Câu phức có đề ngữ là kết cấu chủ-vị. Thành phần phụ đề ngữ có thể có cấu tạo từ một từ, cụm từ, một kết cấu chủ-vị, khi có cấu tạo kết cấu chủ-vị gọi là câu phức. Phân tích cú pháp câu phức (1), có vị ngữ là cụm chủ-vị bị bao Hình 1. Phân tích cú pháp câu phức (1), có vị ngữ là cụm chủ-vị bị bao (1.5) Cuộc sống trong chiến tranh khó khăn thế nào, thanh niên thời bình ít hình dung được.
Kết cấu chủ-vị Cuộc sống trong chiến tranh khó khăn thế nào được dùng để nêu lên đề tài của câu nói chứa nó với tư cách là điểm xuất phát của 13 câu nói. Về mặt nghĩa, kết cấu C-V là đề ngữ này có quan hệ với động từ cảm nghĩ nói năng “hình dung”. - Câu phức có trạng ngữ là kết cấu chủ-vị. Nhìn chung, khi một trạng ngữ (gia ngữ) có cấu tạo là cụm chủ-vị thì câu thuộc loại câu ghép.
Thế nhưng nếu giữa chủ ngữ của vế câu đứng trước với chủ ngữ của vế câu đứng sau có quan hệ chỉnh thể-bộ phận thì vế trước là trạng ngữ và câu thuộc loại câu phức, vì kiểu câu này không diễn đạt hai sự kiện khác nhau.6) Mắt đeo kính trắng, người đàn ông nhìn về phía công trường. - Câu phức có định ngữ là kết cấu chủ-vị (1.7) Con mèo Giáp mua chạy mất rồi. - Câu phức là câu bị động. Câu bị động về mặt cú pháp thuộc kiểu câu phức, về mặt ngữ nghĩa thuộc kiểu câu diễn đạt sự thể động.
Dấu hiệu cú pháp của câu bị động là sự có mặt trong câu hai tác tố bị, được, và sau hai tác tố này là một kết cấu chủ- vị đầy đủ hoặc tỉnh lược (bổ ngữ của hai động từ bị và được có cấu tạo kết cấu chủ-vị.8) Cây // bị sét / làm đổ. Nhận xét: Câu phức là câu bị động chính là một tiểu loại của câu phức thành phần bổ ngữ. Nhưng như đã nói “bị, được” là hai động từ chỉ sự tiếp thu một cách bị động” cho nên việc tách loại câu này thành mộ câu riêng là có cơ sở và hợp lý. - Câu phức có bổ ngữ là câu ghép.9) Tôi biết (rằng) Giáp không những lười học mà Giáp còn bướng.
Câu phức là một hiện tượng có thực, dù xếp nó vào kiểu câu đơn hay tách ra thành kiểu riêng. Việc xếp riêng câu phức có giá trị thực tế đối với ngữ pháp thực hành, cụ thể là cách đưa một câu bên ngoài vào làm một bộ phận trong câu phức thế nào cho thích hợp. Đây là một vấn đề còn ít được quan tâm trong tiếng Việt. Khái niệm câu ghép Câu ghép là câu có từ hai kết cấu chủ-vị trở lên trong đó mỗi kết cấu chủ-vị làm thành một vế câu, không kết cấu chủ-vị nào bị bao chứa bên trong kết cấu chủ-vị nào.
Cũng có một số trường hợp cụ thể như: trong các câu tục ngữ, cả hai vế câu có thể đều không có chủ ngữ, nhưng nếu giữa chúng có thể xác lập được một quan hệ như giữa hai vế của câu ghép thì câu đó được coi là câu ghép.10) Vì tên Dậu // là thân nhân của hắn, cho nên chúng con // bắt nộp thay.11) Nắng // ấm, sân // rộng và sạch. (Nguyễn Đình Thi) * Nhận xét: - Cả hai câu đều có hai kết cấu chủ-vị Câu (1.10) kết cấu quan hệ theo kiểu nguyên nhân – hệ quả.11) kết cấu quan hệ theo kiểu liệt kê Các kết cấu này không phụ thuộc, bao hàm nhau mà độc lập với nhau, quan hệ với nhau theo kiểu ghép nối cùng đón nhận chủ ngữ- những nòng cốt câu (Cả hai đều là nòng cốt). Phân loại câu ghép Căn cứ vào mối quan hệ giữa các vế (kết cấu chủ-vị) trong câu, câu ghép có các loại. Đẳng lập Câu ghép Chính phụ Qua lại Chuỗi - Câu ghép chính phụ: 15 + Khái niệm: Là câu ghép có 2 vế, chính và phụ trong đó vế phụ bao giờ cũng được đánh dấu bằng quan hệ từ phụ thuộc ở đầu, vế chính có thể có quan hệ từ tương ứng hoặc không.12) Vì nắng hạn kéo dài, cho nên lúa đỏ ngọn hết.13) Vì nắng hạn kéo dài, lúa đỏ ngọn hết.
+ Trật tự: Vế phụ - Vế chính, thường giữa 2 vế có dấu phẩy no không bắt buộc. + Phân loại: Vì quan hệ từ sẽ quy định mối quan hệ giữa hai vế căn cứ vào các quan hệ từ, có thể chia câu ghép chính phụ thành: > Câu ghép chính phụ chỉ quan hệ nguyên nhân – hệ quả.14) Vì nó học kém nên nó thi hỏng.15) Sở dĩ nó thi hỏng là vì nó học kém. (Vế phụ đứng sau) Đầu vế phụ có chứa quan hệ từ diễn đạt quan hệ nguyên nhân: vì, do tại, bởi, nhờ….vế chính: (cho) nên, mà…. > Câu ghép điều kiện/giả thiết – hệ quả.16) Nếu lão có một cái mỏ vừa phải thì lão sẽ đẹp trai lắm.17) Lão sẽ đẹp trai lắm nếu lão có một cái mỏ vừa phải.
-> Quan hệ từ (thì) ở vế chính có thể lược bỏ. Vế phụ: Nếu, hễ, miễn (là), giá (mà), giả sử…. Chính: thì…. > Câu ghép nhượng bộ - Tương phản (1.18) Tuy miệng nói cười như vậy mà bụng ông cũng rối bời lên.
Quan hệ từ: Tuy, mặc dầu, dù….nhưng, mà…. > Câu ghép mục đích (1.19) Để cô giáo vui lòng (thì) chúng ta phải chăm học hơn. Quan hệ từ: Để, để cho, cho…. Chú ý: Cần phân biệt: (1.20) Vì trời mưa nên nước sông dâng cao.21) Vì mưa nên nước sông dâng cao.
(câu đơn) 16 (Trạng ngữ nguyên nhân) - Câu ghép đẳng lập/liên hợp. + Khái niệm: Câu ghép trong đó quan hệ ngữ pháp chung giữa các vế câu là quan hệ bình đẳng, không vế nào phụ thuộc hẳn vào vế nào. + Phân loại: Xét phương tiện nối các vế trong câu ghép liên hợp, có thể phân biệt các kiểu câu ghép liên hợp sau. > Câu ghép liên hợp có quan hệ từ (câu ghép đẳng lập) .