MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nền công nghiệp ngày càng phát triển thì nguy cơ ô nhiễm môi trƣờng ngày càng cao, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm kim loại nặng. Nó đang trở thành một vấn đề cấp bách cần đƣợc giải quyết bởi tính chất độc hại của nó đối với các sinh vật sống nói chung và con ngƣời nói riêng [14]. Đã có nhiều phƣơng pháp đƣợc áp dụng nhằm tách các ion kim loại nặng ra khỏi môi trƣờng nhƣ: phƣơng pháp hóa lý (phƣơng pháp hấp phụ, phƣơng pháp trao đổi ion, …), phƣơng pháp sinh học, phƣơng pháp hóa học…Trong đó phƣơng pháp hấp phụ là một phƣơng pháp đƣợc sử dụng phổ biến bởi nhiều ƣu điểm so với các phƣơng pháp khác.
[3,4, 20-24, 26-36] Sau khi ba nhà khoa học A.Shirakawa giành giải thƣởng Nobel năm 2000 về polyme dẫn, các nhà khoa học trên thế giới ngày càng quan tâm nghiên cứu nhiều hơn về khả năng ứng dụng của vật liệu này, đặc biệt là polyanilin. Đây là vật liệu đƣợc xem nhƣ vật liệu lý tƣởng vì dẫn điện tốt, bền nhiệt, dễ tổng hợp lại thân thiện với môi trƣờng. Polyanilin cũng đã đƣợc biến tính, lai ghép với nhiều vật liệu vô cơ, hữu cơ thành dạng compozit nhằm làm tăng khả năng ứng dụng của nó trong thực tế. Một trong những vật liệu sử dụng để lai ghép với polyanilin đang đƣợc các nhà khoa học quan tâm là các phụ phẩm nông nghiệp.
Hƣớng nghiên cứu này còn có nhiều ƣu điểm là tận dụng đƣợc nguồn nguyên liệu rẻ tiền, dễ kiếm, phù hợp với đặc điểm kinh tế Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp. Loại vật liệu compozit này đã và đang đƣợc nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là xem xét đến khả năng ứng dụng của chúng trong xử lý môi trƣờng thông qua quá trình hấp phụ các kim loại nặng. Tuy nhiên ở Việt Nam, hƣớng nghiên cứu này còn khá mới mẻ. Do vậy chúng tôi tiến hành lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Tổng hợp, nghiên cứu vật liệu hấp phụ compozit từ polyanilin và các phụ phẩm nông nghiệp hướng đến ứng dụng xử lý môi trường”.
Mục tiêu đề tài - Tổng hợp vật liệu hấp phụ compozit từ polyanilin và các phụ phẩm nông nghiệp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ - Khảo sát khả năng hấp phụ một số ion kim loại nặng của vật liệu hấp phụ trong dung dịch nƣớc. Cách tiếp cận, phƣơng pháp nghiên cứu 3. Cách tiếp cận - Tổng hợp tài liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu.
- Tiến hành thực nghiệm: tổng hợp vật liệu và khảo sát các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng hấp phụ các kim loại nặng của vật liệu hấp phụ đã tổng hợp. Phương pháp nghiên cứu - Các phƣơng pháp nghiên cứu cấu trúc, đặc điểm bề mặt nhƣ: Phƣơng pháp phổ hồng ngoại IR; Phƣơng pháp hiển vi điện tử quét (SEM). - Phƣơng pháp phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) để xác định hàm lƣợng các ion kim loại trƣớc và sau khi hấp phụ. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 4.
Đối tượng nghiên cứu - Các phụ phẩm nông nghiệp: mùn cƣa, vỏ lạc, vỏ đỗ. - Các ion kim loại nặng: chì, cadmi và crom. - Các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng hấp phụ của vật liệu hấp phụ: pH, thời gian hấp phụ, nồng độ ban đầu của chất bị hấp phụ. Phạm vi nghiên cứu - Bƣớc đầu thực hiện nghiên cứu cơ bản trong phòng thí nghiệm và có thử nghiệm đối với một số mẫu thật.
Nội dung nghiên cứu: - Tổng hợp vật liệu compozit từ polyanilin và các chất mang: mùn cƣa, vỏ đỗ, vỏ lạc. - Phân tích đặc trƣng cấu trúc vật liệu và hình dạng bề mặt vật liệu thông qua phổ hồng ngoại IR và nghiên cứu ảnh SEM. - Khảo sát khả năng hấp phụ các ion kim loại crom(VI), chì(II) và cadimi(II) của vật liệu compozit theo các yếu tố: thời gian, pH và nồng độ ban đầu chất bị hấp phụ. - Khảo sát cân bằng hấp phụ theo mô hình hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir và Freundlich.
- Khảo sát mô hình động học hấp phụ của vật liệu hấp phụ. - Bƣớc đầu thăm dò nghiên cứu, xử lý mẫu nƣớc thải của một khu công nghiệp trên địa bàn Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ CHƢƠNG 1. Hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng Kim loại nặng (KLN) là một thuật ngữ chỉ nhóm các kim loại có khối lƣợng riêng lớn hơn 4 g/cm 3.
Thuật ngữ này đƣợc sử dụng rộng rãi và thƣờng để chỉ các nguyên tố Cu, Pd, Zn, Hg, Cd, Cr, Ni.[12] KLN thƣờng không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hóa của cơ thể sinh vật và thƣờng tích lũy trong cơ thể chúng. Vì vậy nếu hàm lƣợng cao thì chúng là các nguyên tố gây độc hại với sinh vật và con ngƣời. [14] Ngày nay do việc sử dụng các kim loại ngày càng nhiều trong công nghiệp dẫn đến sự ô nhiễm kim loại nặng trong nƣớc tƣơng đối trầm trọng. Tại các thành phố lớn: nhƣ Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, hàng trăm các cơ sở sản xuất công nghiệp đã và đang gây ô nhiễm các nguồn nƣớc do không có các công trình, thiết bị xử lí kim loại nặng.
Hơn thế nữa các khu công nghiệp, khu chế suất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn…Hàng trăm làng nghề trong cả nƣớc nhƣ đúc đồng , nhôm,…lƣu lƣợng hàng ngàn m3/ngày không qua xử lí, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nƣớc và môi trƣờng khu vực. Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là nghiên cứu loại bỏ ion kim loại nặng trong nƣớc, nƣớc thải, thực phẩm nhằm đảm bảo chất lƣợng cuộc sống cho con ngƣời. Thái Nguyên lƣu vực sông cầu tiếp nhận nƣớc thải của 6 tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dƣơng, và một phần nƣớc thải của Hà Nội, các cơ sở luyện kim, cán thép, chế tạo máy, tập trung ở Thái Nguyên với tổng nƣớc thải hơn 16000m3/ngày cũng là thủ phạm khiến nguồn nƣớc sông Cầu bị ô nhiễm. Khu công nghiệp lớn thứ hai của Thái Nguyên: KCN Sông Công với các nhà máy sản xuất cơ khí, chế tạo máy động lực nhƣng từ năm 2011 đến nay vẫn chƣa có hệ thống xử lí nƣớc thải, hoặc chỉ có hệ thống xử lý lặng cặn sơ bộ rồi thải thẳng ra sông đem theo rất nhiều dầu mỡ kim loại nặng độc hại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.1: Giá trị giới hạn nồng độ một số các kim loại nặng trong nƣớc thải công nghiệp [16]. Giá trị giới hạn STT Nguyên tố Đơn vị A B C 1 Chì mg/l 0,1 0,5 1,0 2 Cadimi mg/l 0,005 0,010 0,500 3 Crom (VI) mg/l 0,05 0,10 0,50 4 Đồng mg/l 2,0 2,0 5,0 5 Niken mg/l 0,2 0,5 2,0 6 Mangan mg/l 0,5 1,0 5,0 Trong đó, nƣớc thải công nghiệp có giá trị nồng độ các chất thành phần bằng hoặc nhỏ hơn giá trị quy định trong cột A có thể đổ vào các vực nƣớc đƣợc dùng làm nguồn cấp nƣớc sinh hoạt. Nƣớc thải công nghiệp có giá trị nồng độ các chất thành phần nhỏ hơn hoặc bằng giá trị quy định trong cột B chỉ đƣợc đổ vào các vực nƣớc dùng cho các mục đích giao thông thuỷ, tƣới tiêu, bơi lội, nuôi thuỷ sản, trồng trọt. Nƣớc thải công nghiệp có giá trị các thông số và nồng độ các chất thành phần lớn hơn giá trị quy định trong cột B nhƣng không vƣợt quá giá trị quy định trong cột C chỉ đƣợc phép đổ vào các nơi đƣợc quy định.
Ảnh hƣởng của một số kim loại nặng đến cơ thể con ngƣời 1. Ảnh hưởng của crom [3,12,28,29] Crom là một trong những nguyên tố phổ biến trong tự nhiên. Trong vỏ trái đất, crom chiếm 6.10 3 % tổng số nguyên tử. Crom đƣợc tìm thấy trƣớc tiên ở dạng quặng sắt cromit (FeOCrO3).
Crôm đƣợc sử dụng để chế tạo thép crôm, thép không gỉ, hợp kim. Crôm (VI) oxit, cromat, bicromat là những chất oxy hóa mạnh hay đƣợc sử dụng. Crôm (II) dạng muối là chất khử trong các phản ứng hữu cơ. Nguồn nƣớc thải chứa nhiều crôm là nƣớc thải quá trình thuộc da và mạ điện.
Crom tồn tại ở ba hóa trị là Cr(II), Cr(III), Cr(VI) nhƣng chỉ có Cr(VI) là độc hại nhất tới môi trƣờng. Cr(VI) tồn tại trong môi trƣờng ở 2 dạng cromat CrO 24 và dicromat Cr 2 O 72. Cr 2 O 72 tồn tại trong môi trƣờng axit, còn CrO 24 tồn tại trong môi trƣờng kiềm, giữa hai dạng của crom có cân bằng: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 2CrO 24 + 2H Cr 2 O 72 + H2 O Cr(VI) gây độc cho cơ thể qua gan, thần kinh và tim. Khi tiếp xúc trực tiếp với Cr(VI), da có thể bị nổi phồng và loét sâu, thậm chí bị loét tới xƣơng.
Nếu crom xâm nhập theo đƣờng hô hấp sẽ dẫn tới bệnh viêm yết hầu, viêm phế quản, thanh quản do niêm mạc bị kích thích, sinh ngứa mũi, hắt hơi, chảy nƣớc mũi. Nhiễm độc crom gây ung thƣ phổi, ung thƣ gan và viêm thận. Hàm lƣợng crôm cho phép trong nƣớc uống phần lớn đƣợc qui định là 0,05mg/l. Ảnh hưởng của chì [3,12,14,32,34,36] Chì tồn tại ở các dạng hóa trị : 0, +2, +4 trong đó muối chì hóa trị 2 là hay gặp nhất và có độ bền cao nhất.
Trong các hợp chất hữu cơ chì thƣờng có hóa trị 4. Trong không khí chì kim loại bị oxy hóa tạo ra lớp màng oxit bảo vệ, trong nƣớc tạo ra lớp hydroxit. Trong tự nhiên tồn tại các loại quặng galenit (PbS), cerusit (PbCO3) và anglesit (PbSO4). Chì đƣợc sử dụng để chế tạo acquy chì - axit và hợp kim.
Hợp chất chì hữu cơ, tetraethyl, tetramethyl chì đƣợc sử dụng với lƣợng khá lớn làm chất phụ gia xăng và dầu bôi trơn mặc dù xu hƣớng hiện nay đang là hạn chế và loại bỏ. Nồng độ chì trong thức ăn và không khí có xu hƣớng giảm dần nên sự thâm nhập của nó vào cơ thể chủ yếu do nguồn nƣớc. Tại 200C độ tan của chì nitrat là 522g/l, của chì clorua là 9,9g/l và chì sunfat là 42 g/l. Trong môi trƣờng nƣớc tính năng của hợp chất chì đƣợc xác định chủ yếu thông qua độ tan của nó.
Độ tan của chì phụ thuộc vào pH, pH tăng thì độ tan giảm và phụ thuộc vào các yếu tố khác nhƣ độ muối (hàm lƣợng ion khác) của nƣóc, điều kiện oxy hóa khử. Chì trong nƣớc máy có nguồn gốc tự nhiên chiếm tỉ trọng khiêm tốn, chủ yếu là đƣờng ống dẫn, các thiết bị tiếp xúc có chứa chì. Hàm lƣợng phụ thuộc vào pH, độ cứng, nhiệt độ, thời gian tiếp xúc.