Chương 1 TỔNG QUAN 1. Các hợp chất có chứa vòng coumarin 1. Sơ lược coumarin Theo tài liệu [78]: Tên gọi: 5 4 6 3 - IUPAC: 2H-Cromen-2-on; 7 - Tên gọi khác: 2-Benzopiron, 2H-1- O 2 O 8 1 Benzopiran-2-on, α-Benzopiron. Tính chất vật lý: - Coumarin là tinh thể không màu hoặc màu trắng; mùi thơm dễ chịu, có mùi hoa quế - tnc°C= 68 – 71°C, t°s= 298 – 302°C.
Các nhà khoa học đã tìm thấy sự có mặt của coumarin trong nhiều loài - tnc0C= thực vật,68-71 0 C, t0sđậu đặc biệt = 298- (Đipteryx odorata) có chứa hàm lượng cao 302°C, Tonka trong raetanol, -Tan tốt ngoài coumarin, còn cóđietyl ete, (Anthoxanthum odoratum), cỏ ba lá cỏ Vanilla cloroform.), cỏ Xa điệp (Galium odoratum), cây cải hương, cỏ Ngọt (Hierochloe odorata), cây Thuốc lá (Nicotiana tabacum), trong củ Nghệ vàng (Curcuma longa L.Sự có mặt của coumarin có tác dụng chống sâu bệnh cho cây. Coumarin đã được sử dụng trong nước hoa từ năm 1882 do mùi hương ngọt ngào của nó mang lại. Mặc dù coumarin không có hoạt tính chống các tế bào máu kết tụ lại, nhưng coumarin vẫn được sử dụng trong ngành công nghiệp dược phẩm với vai trò là chất đầu để tổng hợp nên một số dược phẩm như thuốc kháng đông máu dicoumarol (thuốc kháng đông máu tự nhiên được tìm thấy trong một vài loài nấm) hay warfarin từ quá trình tổng hợp 4-hyđroxycoumarin. Ngoài ra, một số 3 coumarin có tác dụng làm dãn động mạch vành và mạch ngoại vi, có tác dụng chống co thắt.
Một số chất có tác dụng ức chế sinh trưởng thực vật. Coumarin có giá trị y tế lâm sàng, như một công cụ điều chỉnh phù nề. Coumarin và các loại benzopyone, 1,2-benzopyrone, diosmin và các loại khác, được biết là kích thích các đại thực bào để giảm albumin ngoại bào, cho phép tái hấp thu nhanh hơn các chất lỏng nề[78]. Coumarin cũng được sử dụng làm môi trường khuếch đại trong một số laser nhuộm, và rất nhạy cảm trong các công nghệ quang điện cũ[78].
Coumarin lần đầu tiên được phân lập như một sản phẩm tự nhiên vào năm 1820 bởi A. Vogel, sau đó được tổng hợp lần đầu vào năm 1868 bởi nhà hóa học người Anh William Henry Perkin[62]. Các phương pháp tổng hợp vòng coumarin 1. Tổng hợp coumarin theo phương pháp Perkin Đây là phương pháp đơn giản và thuận tiện nhất để tổng hợp cumarin, trên cơ sở phản ứng của anhiđrit axetic hoặc axyl halogenua và dẫn xuất anđehit salixylic, xúc tác được sử dụng là natri axetat hoặc Et3N [9, 61]: OH CHO CHO H (CH3CO)2O H CH3COO CH3COONa -CH3COOH -H2O OH O O O O O O 1.
Tổng hợp coumarin theo phương pháp Pechmann Theo tài liệu [7, 9]: phương pháp Pechmann tổng hợp dẫn xuất cumarin đi từ các acid cacboxylic hoặc este chứa nhóm β-cacbonyl với phenol, xúc tác được sử dụng là acid H2SO4 đặc hoặc Lewis acid AlCl3, BiCl3. ta sẽ thu được các dẫn xuất coumarin thế ở vị trí số 4. Ta có thể mô tả các quá trình của phản ứng bằng sơ đồ sau: [47, 48, 67]: AlCl3 AlCl3 OH CH3 O O O AlCl3, PhNO2 H O 100-130oC -H EtO -OH O O O O -AlCl O O 3 80-85% 4 Tùy thuộc vào cấu tạo của phenol và loại xúc tác sử dụng mà phản ứng sẽ xảy ra trong các điều kiện rất khác nhau. Với phenol không thế, phản ứng cho hiệu suất tốt tuy nhiên điều kiện của phản ứng khắc nghiệt [48, 63].
Phản ứng được thực hiện với phenol cho kết quả tốt hơn cả, có khả năng phản ứng lớn nhất là resoxinol, phản ứng đạt được hiệu suất cao dù được tiến hành ở điều kiện khá êm dịu: OH CH3 H2SO4 đ + CH3COCH2COOC2H5 20°C, 24h + C2H5OH OH HO O O ( 85%) Một cách đáng tin tưởng, phản ứng xảy ra theo cơ chế: - Giai đoạn 1: Là sự tấn công electronphin của nhóm cacbonyl ketone được proton hóa và vòng thơm. Chính khả năng phản ứng cao hơn của nhóm cacbonyl ketone so với nhóm cacbonyl este là điều kiện cho sự hình thành cuối cùng của vòng coumarin. - Giai đoạn 2: Phản ứng giữa nhóm –OH của resoxinol và nhóm este của etylaxetoaxxetat tách đi nột phân tử ethanol để hình thành vòng coumarin. Với các dẫn xuất coumarin khác, phương pháp này yêu cầu việc sử dụng các formylaxetic acid hoặc este.
Những hợp chất này có đặc điểm không bền và không có sẵn trên thị trường, nhưng ngay trong phản ứng có thể sinh ra axit này nếu sử dụng malic acid và sunfuric acid ở nhiệt độ trên 100°C. Ngay sau khi được sinh ra, quá trình ngưng tụ Pechmann sẽ xảy ra với các formylaxetic acid. Một ví dụ điển hình là umbeliferon được tổng hợp bằng cách như thế, tuy nhiên hiệu suất của quá trình phản ứng thấp: COOH HO OH H2SO4, 120oC O (H=43%) HO -CO,-H2O H2SO4, 120 C o HO O O O OH Umbeliferon O OH Các nghiên cứu những phản ứng tổng hợp coumarin trong các dung môi khác như nitrobenzene với xúc tác như POCl3, CH3COONa, AlCl3 … [36] cũng cho kết quả rất tốt: 5 CH3 OH + C6H5NO2 CH3COCH2COOC2H5 AlCl3 khan O O CH3 OH COOEt POCl3 + CH3-CO-CH(COOEt)-CH2-CH2-COOEt O OH OH CH3 OH C6H5NO2 + CH3COCH2COOC2H5 + C2H5OH + H2O AlCl3 khan 130 -140°C HO O OH OH CH3 COCH 3 HO COCH 3 + CH3COCH2COOC2H5 CH3COONa O O OH CH3 COCH 3 O O OH OH POCl3 CH3 t° thường CH3COONa COCH 3 + CH3COCH2COC2H5 K2CO3 OH HO O O OH CH3 OH COCH 3 O O 6 O OH HO COOH O H2SO4, 120°C H2SO4 (H= 43%) 120°C -CO, -H2O HO O OH OH Umbeliferon HO OH O CH3 O O 5 mol - %BiCl3 + 75°C or 125°C 1 -4h O OH OH R R 1. Tổng hợp coumarin theo phương pháp Knoevenagel Để tổng hợp vòng cumarin có nhóm thế ở vị trí số 3 [48, 57, 73] thì phương pháp ngưng tụ Knoevenagel đóng vai trò quan trọng, sự tương tác giữa các hợp chất kiểu o-hiđroxiaryl anđehit và hợp chất có nhóm metylen hoạt động trong - đicacbonyl [9] là cơ sở của phản ứng này: O CHO OC2H5 COOC2H5 piperidin axetat + C2H5OH, t°C OC2H5 O OH H=80% OH O Phản ứng ngưng tụ Knoevenagel được thực hiện dưới tác dụng của sóng điện từ, ethyl carboxylat và các dẫn xuất anđehit salixylic, xúc tác được sử dụng là piperiđin trong thời gian phản ứng ngắn: 1-10 phút nhưng hiệu suất đạt được khá cao: 55-96% [7, 54, 73] 7 CHO R3 R3 piperidin + R1 OH R1 O O R2 COOEt R2 R3 piperidin R3 + OH CHO COOEt O O Bên cạnh việc sử dụng xác tác là các base yếu như piperidin…trong phản ứng Knoevenagel, việc sử dụng các chất lỏng ion (Ionic liquid) vừa là chất xúc tác vừa là dung môi đang được áp dụng nhiều hơn ở thời điểm hiện tại.
Các chất lỏng ion khi sử dụng có ưu điểm lớn là không gây độc hại đến môi trường và có thể tái sử dụng nhiều lần. Một ví dụ về việc sử dụng xúc tác và dung môi là các chất lỏng ion đó là dùng [bmIm]OH (1-butyl-3-metylimidazol hiđroxit) trong phản ứng Knoevenagel [71] theo sơ đồ sau: EWG EWG + [bmlm]OH r.t R OH O R CO 2Et R: H, 3-OMe, 5-OMe EWG: CO2Et, COCH3 Thời gian thực hiện phản ứng ngắn, từ 15-20 phút, với hiệu suất phản ứng tương đối cao, từ 82-92%. Tổng hợp coumarin theo phương pháp Reformatsky Theo tài liệu [7]: Phương pháp Reformatsky được thực hiện dựa trên sự tương tác của kim loại kẽm với một α-halogen este, sản phẩm phản ứng sinh ra hợp chất cơ kẽm. Hợp chất cơ kẽm tiếp tục phản ứng với dẫn xuất của anđehit salixylic tạo sản phẩm là β-hiđroxi este, sau đó β-hiđroxi este này tách nước và vòng hóa nội phân tử sẽ cho sản phẩm là dẫn xuất coumarin.
Dung môi thường 8 được sử dụng cho phản ứng là đietyl ete, THF hoặc toluen khan [54]. Ta có thể mô tả các quá trình của phản ứng theo sơ đồ sau: O OH H Br O 1. Zn, toluen, Et2O H 3O O OMe 2. H2O O O OH OH OMe 1.
Tổng hợp coumarin bằng phương pháp điện hóa CH3 CH3 O 1. 30, 60 or 120°C R 10-120 min OH O O O OEt R' R Y O 0.1 eq Hf(OTF)4 methylcyclohexane/ [bmim][SBF6] Y: O, NH ( 6: 1) 85°C, 9h Y O R R' CHO EWG EWG R + 0. [bmim]OH R EWG: COMe, CO2Et OH r.t, 15-25 min OH CO 2Et O O R CHO R Ar Ar + 0.1 eq piperidin THF, 80°C OH MeS SMe 12-15H O O 9 CHO EWG EWG + 0. H2N-CH2-CH2-NH2.
2AcOH EWG: COMe, R OH [bmin]BF4.t, x-y h CO2Et OH CO 2Et 1. Một số phương pháp khác tổng hợp coumarin Một phương pháp tổng hợp trực tiếp coumarin đi từ các hợp chất 2- vinylphenol với sự có mặt của khí CO và không khí, dùng xúc tác muối Pd(OCOCH3)2 làm chất oxi hóa, hoặc 1,4- benzoquinon như một chất oxi hóa, phản ứng tạo ra coumarin với hiệu suất tương đối tốt (54-85%) [31]: R' R' R Pd(OAc)2 R Phenanthrolin OH CO/air (1:1, 3 atm) O O MeCN, 1100C, 20h R: H, Me,Br R': H, Me, Ph Cũng xuất phát từ hợp chất 2-hiđroxibenzanđehit bằng phản ứng với triphenylphotphin và điankyl axetylenđicacboxylat, tác giả [30] đã tổng hợp được các hợp chất 4-cacboxyankyl-8-formyl coumarin: CO2R' R + R'O2C CO2R' PPh3 OH R R': Me, Et DMF CHO O O CHO 1. Hoạt tính sinh học 1. Hoạt tính chống đông máu Đề tài trọng điểm cấp bộ B2005-04-46TĐ về dịch chiết cây riềng đỏ chữa cơ tim thiếu máu cục bộ, tác giả đề tài là bác sĩ Hoàng Sầm, đại học y cũng chỉ ra rằng Coumarin có tác dụng trong việc giãn nở mạch vành và chống đông máu cho bệnh nhân loại này [5].
10 O O O O O O O OH OH OH Warfarin bishydroxycoumarin Hình 1.1: Một số hợp chất có hoạt tính chống đông máu 1. Hoạt tính chống đái tháo đường Kết quả thử nghiệm hoạt tính ức chế in vitro, in silico và các mô hình động vật đơn giản cho thấy một vài hợp chất lai coumarin có thể làm giảm tốc độ hấp thu glucose ở ruột, tăng mức insulin, tăng hấp thu glucose của tế bào, giảm quá trình tái tạo glucose [19]. HO O O Umbelliferone Hình 1.2: Một số hợp chất có hoạt tính chống đái tháo đường 1. Hoạt tính chống ung thư Các hợp chất của 3-(2-amino-6-arylpyrimidin-4-yl)-4-hydroxy-1- methylquinolin-2(1H)-one đã được sàng lọc về hoạt tính chống ung thư in vitro bao gồm các dòng tế bào ung thư biểu mô(KB) và tế bào ung thư gan (HepG2).
Ellipticine được sử dụng làm chất đối sánh [19]. O SO2 O Br N N O O O Auraptene Hình 1.3: Một số hợp chất có hoạt tính chống ung thư 11 1. Hoạt tính chống lao Chiang và cộng sự đã phân lập 10 hợp chất lai coumarin.