Luận án tiến sĩ: Tổng hợp và ứng dụng vật liệu cacbon nano ống trong hóa học

Luận án tiến sĩ hóa học phân tích hóa học nghiên cứu tổng hợp biến tính vật liệu cacbon nano ống và ứng dụng, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới

Chuyên ngành

Hóa Vô cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ hóa học

2018

176
8
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

2.1. Vật liệu cacbon nano ống

2.2. Cấu trúc của vật liệu cacbon nano ống

2.3. Tính chất quan trọng của vật liệu cacbon nano ống

2.4. Ứng dụng của vật liệu cacbon nano ống

2.5. Tổng hợp vật liệu cacbon nano ống

2.6. Cơ chế hình thành vật liệu cacbon nano ống

2.7. Biến tính bề mặt vật liệu cacbon nano ống

2.8. Lý thuyết về hấp phụ

2.8.1. Khái niệm quá trình hấp phụ

2.8.2. Cân bằng hấp phụ

2.8.3. Động học hấp phụ

2.8.4. Đẳng nhiệt hấp phụ/khử hấp phụ

2.8.5. Ảnh hưởng của nhiệt độ và các tham số nhiệt động học

2.9. Hấp phụ trong xúc tác dị thể

2.9.1. Xúc tác oxi hóa dị thể

2.9.2. Động học xúc tác dị thể

3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Nội dung nghiên cứu

3.2. Tổng hợp vật liệu CNTs từ nguyên liệu LPG bằng phương pháp CVD

3.3. Tổng hợp vật liệu W/CNTs và ứng dụng xúc tác phản ứng oxi hóa dibenzothiophen

3.4. Biến tính bề mặt vật liệu CNTs và ứng dụng hấp phụ Pb(II) trong dung dịch nước

3.5. Phương pháp nghiên cứu

3.5.1. Điều chế xúc tác cho quá trình tổng hợp CNTs bằng phương pháp ướt

3.5.2. Phương pháp CVD tổng hợp CNTs từ LPG

3.5.3. Tổng hợp vật liệu W/CNTs

3.5.4. Phương pháp biến tính bề mặt vật liệu CNTs

3.5.5. Các phương pháp xác định đặc trưng vật liệu

3.5.6. Phương pháp định lượng kim loại trong dung dịch nước và DBT trong dung môi n-hexan

3.5.7. Phương pháp sắc ký khí khối phổ định tính và định lượng DBT

3.5.8. Thiết bị, dụng cụ và hoá chất

3.5.9. Thiết bị và dụng cụ

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Tổng hợp vật liệu CNTs từ nguyên liệu LPG bằng phương pháp CVD

4.2. Ảnh hưởng của các điều kiện thí nghiệm đến đặc trưng của vật liệu CNTs

4.3. Đặc trưng vật liệu CNTs tổng hợp trong điều kiện không sử dụng khí H2

4.4. Cơ chế của quá trình hình thành và phát triển CNTs

4.5. Nghiên cứu tổng hợp vật liệu W/CNTs và sử dụng làm xúc tác cho phản ứng oxi hóa dibenzothiophen trong dầu mỏ

4.5.1. Nghiên cứu tổng hợp vật liệu W/CNTs

4.5.2. Định tính sản phẩm phản ứng oxi hóa dibenzothiophen trong nhiên liệu mô hình khi sử dụng xúc tác W/CNTs

4.5.3. Đặc trưng vật liệu W/CNTs

4.5.4. Khảo sát khả năng xúc tác phản ứng oxi hóa dibenzothiophen của vật liệu W/CNTs

4.5.5. Khảo sát khả năng tái sử dụng vật liệu W/CNTs

4.6. Biến tính bề mặt vật liệu cacbon nano ống và ứng dụng hấp phụ Pb(II) trong dung dịch nước

4.6.1. Biến tính bề mặt CNTs bằng phương pháp oxi hóa

4.6.2. Đặc trưng vật liệu ox-CNTs

4.6.3. Nghiên cứu quá trình hấp phụ Pb(II) trong dung dịch nước lên vật liệu ox-CNTs

CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Vật liệu cacbon nano ống

Vật liệu cacbon nano ống (CNTs) là một trong những vật liệu tiên tiến nhất trong lĩnh vực công nghệ nano. CNTs được phát hiện vào năm 1991 bởi Iijima, với cấu trúc hình trụ được tạo thành từ các lớp graphen cuộn lại. Tính chất vật liệu cacbon nano bao gồm độ cứng cao, khả năng dẫn điện và dẫn nhiệt vượt trội, làm cho chúng trở thành ứng cửa sáng giá trong nhiều lĩnh vực khoa học và công nghệ. Cấu trúc của vật liệu cacbon nano ống được chia thành hai loại chính: cacbon nano ống đơn tường (SWCNTs)cacbon nano ống đa tường (MWCNTs). Mỗi loại có những đặc tính riêng biệt, phù hợp với các ứng dụng khác nhau.

1.1. Cấu trúc và tính chất

Cấu trúc của CNTs được hình thành từ các nguyên tử cacbon liên kết với nhau theo mạng lưới lục giác, tạo nên độ bền cơ học cao. Tính chất quan trọng của vật liệu cacbon nano ống bao gồm độ dẫn điện cao, độ bền cơ học vượt trội và khả năng chịu nhiệt tốt. Những tính chất này làm cho CNTs trở thành vật liệu lý tưởng cho các ứng dụng trong hóa học, vật liệu họccông nghệ nano.

1.2. Ứng dụng của CNTs

Ứng dụng cacbon nano ống rất đa dạng, từ việc sử dụng trong các thiết bị điện tử, vật liệu composite, đến các ứng dụng trong y học và môi trường. Cacbon nano ống trong hóa học được sử dụng làm chất xúc tác, chất hấp phụ và trong các phản ứng hóa học đặc biệt. Nhờ tính chất vật liệu cacbon nano, CNTs đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới trong khoa học và công nghệ.

II. Tổng hợp vật liệu cacbon nano

Tổng hợp vật liệu cacbon nano là quá trình quan trọng để tạo ra CNTs với chất lượng và độ tinh khiết cao. Có nhiều phương pháp tổng hợp cacbon nano được sử dụng, bao gồm phương pháp hồ quang điện, cắt laser và lắng đọng hơi hóa học (CVD). Trong đó, phương pháp CVD được ưa chuộng nhờ hiệu suất cao và điều kiện tổng hợp đơn giản. Cơ chế hình thành vật liệu cacbon nano ống trong phương pháp CVD liên quan đến sự phân hủy các hợp chất chứa cacbon và lắng đọng trên các hạt xúc tác kim loại.

2.1. Phương pháp CVD

Phương pháp CVD sử dụng các hợp chất chứa cacbon như khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) làm nguyên liệu. Quá trình tổng hợp diễn ra ở nhiệt độ thấp hơn so với các phương pháp khác, giúp giảm chi phí và tăng độ tinh khiết của sản phẩm. Nghiên cứu cacbon nano ống đã chỉ ra rằng, việc sử dụng xúc tác kim loại như Fe, Co, Ni là yếu tố quyết định đến chất lượng của CNTs.

2.2. Biến tính bề mặt CNTs

Biến tính bề mặt vật liệu cacbon nano là quá trình quan trọng để cải thiện tính chất và khả năng ứng dụng của CNTs. Các phương pháp biến tính bao gồm oxi hóa, gắn nhóm chức và phủ lớp vật liệu khác lên bề mặt CNTs. Biến tính bề mặt CNTs giúp tăng khả năng hấp phụ và cải thiện hiệu suất trong các ứng dụng xúc tác.

III. Ứng dụng công nghệ nano trong hóa học

Ứng dụng công nghệ nano trong hóa học đã mở ra nhiều cơ hội mới trong nghiên cứu và phát triển vật liệu. Cacbon nano ống trong hóa học được sử dụng làm chất xúc tác, chất hấp phụ và trong các phản ứng oxi hóa khử. Vật liệu nano trong hóa học đã chứng minh được hiệu quả trong việc xử lý ô nhiễm môi trường và cải thiện hiệu suất của các quá trình hóa học.

3.1. Xúc tác oxi hóa dị thể

Xúc tác oxi hóa dị thể sử dụng CNTs làm chất mang đã được nghiên cứu rộng rãi. Vật liệu W/CNTs được tổng hợp và ứng dụng trong phản ứng oxi hóa dibenzothiophen (DBT) trong dầu mỏ. Kết quả cho thấy, vật liệu W/CNTs có hiệu suất cao trong việc loại bỏ lưu huỳnh, đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt.

3.2. Hấp phụ kim loại nặng

Hấp phụ kim loại nặng là một trong những ứng dụng quan trọng của CNTs. Vật liệu ox-CNTs được biến tính bề mặt đã chứng minh khả năng hấp phụ hiệu quả các ion kim loại nặng như Pb(II) trong dung dịch nước. Nghiên cứu cacbon nano ống đã chỉ ra rằng, quá trình hấp phụ phụ thuộc vào điều kiện biến tính và cấu trúc bề mặt của CNTs.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ hóa học nghiên cứu tổng hợp biến tính vật liệu cacbon nano ống và ứng dụng

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Năm 1991, vật liệu cacbon nano ống (carbon nanotubes - CNTs) được phát hiện bởi nhà nghiên cứu Nhật Bản - Iijima khi ông điều chế fulleren (một dạng thù hình của cacbon có cấu trúc hình cầu - C60) bằng cách phóng điện hồ quang trong môi trường khí trơ. CNTs sở hữu nhiều tính chất đặc trưng hoàn hảo như khả năng dẫn điện, độ cứng cao, độ dẫn nhiệt tốt… vượt trội hơn so với nhiều vật liệu khác [69]. CNTs được tìm thấy trong đám muội than ở điện cực âm của thiết bị hồ quang điện, chúng có cấu trúc hình trụ với đường kính cỡ nanomet được tạo bởi một hay nhiều tấm graphen (lớp đơn nguyên tử gồm các nguyên tử cacbon lai hóa sp2 được sắp xếp thành các vòng lục giác) cuộn tròn lại [69]. Như vậy, phóng điện hồ quang là một trong những phương pháp được sử dụng để tổng hợp loại vật liệu này.

Kể từ khi được phát hiện, CNTs đã trở thành một trong những lĩnh vực nghiên cứu khoa học sôi động bậc nhất. Sau đó, năm 1994, Guo và cộng sự [61] đã sử dụng phương pháp cắt laser để tổng hợp CNTs từ hơi cacbon. Nhược điểm của phương pháp hồ quang điện và cắt laser đòi hỏi nhiệt độ rất cao (trên 30000C) nên thiết bị rất phức tạp và CNTs tạo thành thường lẫn nhiều tạp chất và thường tạo thành đám làm cản trở bước làm sạch và những ứng dụng sau đó. Phương pháp thứ ba đã được Endo [47] sử dụng để tổng hợp CNTs vào năm 1993 là lắng đọng hơi hóa học (Chemical Vapour Deposition-CVD).

Cho đến nay, phương pháp CVD đã được sử dụng phổ biến để tổng hợp CNTs nhờ nhiệt độ tổng hợp thấp (dưới 10000C), đơn giản, hiệu suất và độ tinh khiết của sản phẩm cao [146]. Khi sử dụng phương pháp CVD để tổng hợp CNTs, nguồn nguyên liệu chứa cacbon dạng khí như các hidrocacbon sẽ bị phân hủy ở nhiệt độ xác định và hơi cacbon được lắng đọng trên các hạt xúc tác thường là những kim loại chuyển tiếp như Fe, Co hay Ni và phát triển thành cấu trúc ống cacbon [43], [46]. Để có được xúc tác kim loại, trước đây, hầu như tất cả các nghiên cứu trên thế giới đều sử dụng một lượng lớn hidro làm nguồn khử xúc tác từ oxit thành kim loại [36], [37], [52], 2 [80], [115], [122], [155] trước khi tiến hành quá trình phân hủy hidrocacbon và duy trì dòng khí hidro trong suốt quá trình tổng hợp với vai trò tạo môi trường khử ngăn sự oxi hóa CNTs tạo thành. Một số rất ít các nghiên cứu không sử dụng khí hidro nguyên liệu trong quá trình tổng hợp nhưng với xúc tác là Co và Ni là chủ yếu [97], [98].

Vì lượng khí hidro cần cho quá trình khử khá lớn nên sản phẩm CNTs tạo thành có giá thành cao và đặc biệt làm tăng mức độ nguy hiểm khi vận hành thiết bị có chứa khí hidro ở nhiệt độ cao trong thời gian dài, do vậy quá trình tổng hợp CNTs vẫn cần được kiểm soát rất chặt chẽ. Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu về vật liệu cacbon nano ống đã và đang được triển khai, song đa số là những nghiên cứu ứng dụng vật liệu như nghiên cứu hiệu ứng gia cường của ống nano cacbon đối với vật liệu polyme [7], ứng dụng làm cảm biến khí [64], [68], [78], hay khả năng tích trữ hidro điện hóa [9], xác định vết chì (Pb), indi (In) và cadimi (Cd) bằng phương pháp von-ampe hòa tan anot sử dụng điện cực paste ống nanocacbon biến tính bằng Bi2O3 [6], một số các nghiên cứu tổng hợp CNTs như nhóm nghiên cứu của Huỳnh Anh Hoàng, Nguyễn Hữu Phú và Nguyễn Đình Lâm đã đưa ra những điều kiện tối ưu hóa tổng hợp ống nano cacbon từ khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) bằng phương pháp CVD với sự có mặt của khí H2 [3]. Do vậy, những nghiên cứu tổng hợp CNTs không sử dụng khí hidro là rất cần thiết. Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu hóa thạch quan trọng nhất của xã hội hiện đại, được sử dụng cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau.

Tuy nhiên, việc chế biến và sử dụng các sản phẩm của dầu mỏ cũng cần được kiểm soát, do trong dầu mỏ luôn tồn tại một thành phần không mong muốn là các hợp chất chứa lưu huỳnh (thiophen, benzothiophen, dibenzothiophen, mercaptan, sunfua…). Khi cháy, các hợp chất này sẽ tạo ra khí sunfurơ là khí độc, gây ô nhiễm môi trường và gây hại đối với sức khỏe con người và động vật. Do vậy, hàm lượng lưu huỳnh trong các sản phẩm dầu mỏ trên thế giới hiện nay đang được quy định ngày càng nghiêm ngặt. Tiêu chuẩn Euro V là tiêu chuẩn cao nhất hiện nay với quy định hàm lượng lưu huỳnh trong diezen dưới 10 ppm.

Việt Nam dự kiến vào năm 2021 sẽ áp dụng Tiêu chuẩn Euro V cho các sản phẩm dầu mỏ sử dụng trong nước. Do vậy, những 3 nghiên cứu để giảm hàm lượng lưu huỳnh trong các sản phẩm dầu mỏ đến mức mong muốn vẫn luôn cấp thiết không chỉ trên thế giới, mà cả ở Việt Nam. Phương pháp oxi hóa lưu huỳnh (oxidative desulfurization-ODS) đã được thừa nhận là một trong những phương pháp hiệu quả để loại lưu huỳnh trong dầu mỏ [149]. Tungsten oxit tinh khiết hay tungsten oxit phủ trên các chất mang như SiO2, MCM41, MIL101… đã được khẳng định là một xúc tác dị thể hiệu quả cho quá trình tách loại lưu huỳnh ra khỏi dầu mỏ bằng phản ứng oxi hóa.

Tuy nhiên, hiệu suất loại sâu lưu huỳnh vẫn chưa đáp ứng được [10], [82], [107], [156], [160]. Với diện tích bề mặt cực lớn và khả năng chuyển điện tử tốt, CNTs hứa hẹn là loại chất mang hiệu quả để phân bố và làm tăng hoạt tính của các tâm xúc tác oxit tungsten. Việc ứng dụng vật liệu kết hợp giữa oxit tungsten và CNTs (W/CNTs) làm xúc tác cho phản ứng oxi hóa dibenzothiophen - hợp chất bền chứa lưu huỳnh - trong các sản phẩm của dầu mỏ hầu như chưa được nghiên cứu đầy đủ trên thế giới. Do vậy, nghiên cứu tổng hợp vật liệu W/CNTs và ứng dụng loại dibenzothiophen ra khỏi dầu mỏ cần được triển khai.

Ô nhiễm kim loại nặng (Cu, Pb, Cd, Zn, Hg, As, Cr, Ni…) trong môi trường nước hiện nay vẫn đang là vấn đề được đặc biệt quan tâm không chỉ đối với các nhà khoa học mà đối với tất cả mọi người dân ở Việt Nam, cũng như trên thế giới. Các vật liệu hấp phụ như zeolit, cacbon hoạt tính và cả CNTs đã được nhiều nhà khoa học chứng minh về khả năng hấp phụ rất hiệu quả đối với kim loại nặng nhờ diện tích bề mặt lớn. Vì thế, cần nghiên cứu làm rõ khả năng hấp phụ kim loại nặng đối với vật liệu CNTs được tổng hợp trong điều kiện không sử dụng khí hidro. Xuất phát từ các vấn đề trên, luận án với tên ″Nghiên cứu tổng hợp, biến tính vật liệu cacbon nano ống và ứng dụng″ được thực hiện nhằm mục đích (i) tổng hợp được vật liệu CNTs từ LPG khi có và không sử dụng H2 trong giai đoạn khử xúc tác, (ii) biến tính được vật liệu CNTs đã tổng hợp được để ứng dụng hấp phụ kim loại nặng trong nước và xúc tác loại lưu huỳnh trong dầu mỏ.

Để đạt được mục đích đó, các nội dung nghiên cứu bao gồm: - Điều chế chất xúc tác cho quá trình tổng hợp CNTs bằng phương pháp CVD; 4 - Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển CNTs; - Xác định một số đặc trưng của vật liệu CNTs tổng hợp được bằng những phương pháp hóa lý hiện đại; - Nghiên cứu tổng hợp vật liệu W/CNTs từ CNTs tổng hợp được và ứng dụng loại dibenzothiophen (hợp chất chứa lưu huỳnh trong dầu mỏ) ra khỏi mẫu dầu mỏ mô hình; - Nghiên cứu biến tính bề mặt vật liệu CNTs tổng hợp được bằng phương pháp oxi hóa và ứng dụng hấp phụ ion kim loại nặng (Pb(II) và Cu(II)) trong dung dịch nước. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Vật liệu cacbon nano ống 1. Cấu trúc của vật liệu cacbon nano ống Cacbon nano ống (carbon nanotubes - CNTs) là một dạng thù hình của cacbon được tạo thành bởi một hay nhiều tấm graphen (tấm cacbon phẳng có độ dày một nguyên tử gồm những nguyên tử C-sp2 liên kết với nhau trong mạng lưới lục giác) cuộn tròn lại thành cấu trúc hình trụ liền với đường kính cỡ nanomet và được gắn kín hai đầu bằng hai bán cầu fulleren có cùng đường kính [69].

Tùy thuộc vào cách cuộn những tấm graphen mà CNTs có thể nhận một trong ba dạng cấu trúc là kiểu ghế bành (armchair), zic zac (zigzag) hoặc chiral (hình 1. Ba dạng cấu trúc của CNTs. Vật liệu CNTs có hai dạng chính: cacbon nano ống đơn tường (single-walled carbon nanotubes - SWCNTs) và cacbon nano ống đa tường (multi-walled carbon nanotubes - MWCNTs) (hình 1. Cacbon nano ống đa tường lần đầu tiên được phát hiện bởi Iijima vào năm 1991 khi quan sát sản phẩm phụ của quá trình phóng điện hồ quang trên thiết bị hiển vi điện tử truyền qua (TEM) [30], [69].

Khoảng 2 năm sau đó, ông cũng đã quan sát được cacbon nano ống đơn tường. 6 Một ống cacbon nano đơn tường là một tấm graphen cuộn lại thành hình trụ với đường kính khoảng 1,4 nm. Chiều dài của ống có thể lên đến hàng trăm micromet hay đến centimet. Cacbon nano ống đơn tường (A) và đa tường (B).

Một ống cacbon nano đơn tường được đặc trưng bởi đường kính của ống (d) và góc  (góc chiral) - góc giữa vectơ chiral (Ch) và vectơ cơ sở a1 của mạng hai chiều graphit (hình 1. Vectơ chiral được tính thông qua các vectơ cơ sở a1 và a2 và cặp số nguyên (n, m) quy định mối quan hệ giữa vectơ Ch với các vectơ cơ sở a1 và a2 của mạng graphit theo hệ thức: Ch = ma1 + na2 (0 ≤ n ≤ m). Góc  giữa vectơ Ch và vectơ a1 có giá trị 0o ≤  ≤ 30o là góc nghiêng của hình lục giác của thành ống so với trục của ống. Với giá trị n, m và  khác nhau sẽ tạo nên ba dạng cấu trúc khác nhau của ống là ghế bành, zic zac và xoăn như trình bày ở hình 1.

 = 0o, (m,n) = (p,0), với p là số nguyên thì ta có cấu trúc zic zac.  = ± 30o, (m,n) = (2p,-p) hoặc (p,p) ta có dạng ghế bành. MWCNTs có đường kính lớn hơn SWCNTs. Hai mô hình được dùng để mô tả cấu trúc của MWCNTs là mô hình Russian Doll và Parchment.

Mô hình Russian Doll cho rằng các tấm graphit được sắp xếp thành các ống hình trụ đồng tâm, còn mô hình Parchment thì cho rằng một tấm graphit cuộn lại thành nhiều vòng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng vật liệu cacbon nano ống trong hóa học là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc tổng hợp và khai thác tiềm năng của vật liệu cacbon nano ống (CNTs) trong lĩnh vực hóa học. Tài liệu này không chỉ trình bày các phương pháp tổng hợp tiên tiến mà còn làm nổi bật các ứng dụng đa dạng của CNTs, từ xúc tác hóa học đến lưu trữ năng lượng và xử lý môi trường. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu và sinh viên muốn hiểu sâu hơn về vật liệu nano và cách chúng có thể cách mạng hóa các quy trình hóa học hiện đại.

Để mở rộng kiến thức về các vật liệu nano khác, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ hóa học nghiên cứu khả năng hấp thụ tetracycline và ciprofloxacin trên bề mặt graphene oxide bằng phương pháp hóa học tính toán, nơi khám phá khả năng hấp thụ của graphene oxide. Ngoài ra, Luận văn tổng hợp và nghiên cứu tính chất quang của vật liệu nano lai fe3o4 ag chế tạo bằng phương pháp điện hóa cung cấp cái nhìn chi tiết về tính chất quang học của vật liệu nano lai. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật vật liệu tổng hợp vật liệu nano molybdenum disulfide mos2 bằng phương pháp hóa học sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình tổng hợp các vật liệu nano khác. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về thế giới vật liệu nano và ứng dụng của chúng.