CHƯƠNG 1 DAT VAN DE Luận văn thạc sĩ 2014 1.1 GOI THIEU CHUNG Ngày nay, trong thế giới vật liệu, vật liệu trong suốt dẫn điện (TCO) đóng vai trò cực kỳ quan trọng do khả năng ứng dụng vô cùng to lớn của nó trong khoa học cũng như trong đời sống hằng ngày như: các linh kiện hiển thị, cửa số pin mặt trời, thiết bị sóng âm bề mặt, các loại cảm biến khí, tế bào quang điện. Chính vì lí do đó, việc nghiên cứu về TCO (Transparent Conducting Oxide) đã được tiến hành trong nhiều năm gần đây, trong đó dẫn đầu là vật liệu ITO (Indium Tin Oxide). ITO được chế tạo bằng việc pha tạp In vào SnO, là vật liệu có độ dẫn và độ truyền qua cao nhất hiện nay, đã được ứng dụng rộng rãi trong các thiết bị thiết yếu như: Pin mặt trời, các thiết bi quang dién ti, man hinh tinh thé long, OLED (Organic Light Emitting Diodes). Tuy nhién thực tế hiện nay cho thấy, lượng indium tự nhiên đang khan hiếm dần và sẽ cạn kiệt trong tương lai gần, trong khi nhu cầu sử dụng ngày càng tăng đã làm cho giá cả của indium tăng nhanh đáng kê, và đã lên đến 1000$%/kg vào thời điểm giữa năm 2009.
Thêm vào đó, ITO cũng hạn chế về khả năng hiệu chỉnh quang học và sự mềm đẻo cơ học, cho nên vật liệu này bị giới hạn trong các ứng dụng có yêu cầu tính mềm dẻo. Điều này đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cho các nhà khoa học là phải tìm ra được vật liệu mới có khả năng thay thế cho ITO. Từ năm 2004 một vật liệu mới đã xuất hiện đó là graphene. Graphene là một cấu trúc đơn lớp của nguyên tử carbon.
Trong đó, các nguyên tử carbon liên kết với nhau tạo thành mạng các hình lục giác đều. Cấu trúc của graphene cho thấy nó là loại vật liệu mỏng nhất hiện nay vì nó chỉ có bề dày một lớp nguyên tử. với các đặc tính đáng chú ý đã được công bố là: Suất Young ~1 100 GPa, độ bền chống đứt gãy 125 GPa, độ linh động của hạt tai 200.000 cm’V" s"', dién tich bé mặt 2. Vì vậy, việc định hướng nghiên cứu graphene làm vật liệu trong suốt dẫn điện là một định Luận văn thạc sĩ 2014 hướng hoàn toàn mới trong những năm gần đây.
Mặc dù chỉ mới bắt đầu được tập trung nghiên cứu từ năm 2004 nhưng việc chế tạo graphene hiện nay rất đa dạng và theo nhiều cách thức khác nhau. Các phương pháp chế tạo phô biến là: Phương pháp tách lớp cơ học graphite (mechanical exfoliation of graphite), phuong phap epitaxy (epitaxial growth), phuong phap CVD (Chemical Vapor Deposition) va phuong phap hóa học. Trong đó chế tạo màng graphene từ phương pháp hóa học thông qua việc tổng hợp graphite oxít (GO) được xem là khả quan nhất và được quan tâm nhiều nhất trên thế giới, bởi vì phương pháp này có khả năng tạo ra các màng với diện tích lớn, độ đồng đều cao, dễ thực hiện và đặc biệt giá thành sản xuất được đánh giá là thấp hơn hẵn so với các phương pháp khác.2 SU CAN THIET TIEN HANH NGHIEN CUU Nghiên cứu phương pháp tông hợp và tính chất của vật liệu có kích thước siêu nhỏ, đặc biệt là vật liệu nano là xu thế chung tất yếu của toàn thế giới, bởi vì vật liệu nano không những xuất hiện những tính chất mới lạ mà vật liệu khối cùng thành phần không có được, mà nó còn đóng vai trò quan trọng trong việc giảm kích thước của thiết bị, giảm thiêu tiêu thụ năng lượng, nâng cao hiệu quả và giảm ảnh hưởng tới môi trường. Với những ưu điểm nổi bật đó, vật liệu nano (như tắm nano graphene) đã được tổng hợp và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vưc khác nhau, chẳng hạn như trong lĩnh vưc điện tử, lĩnh vực quang điện tử, sinh học, môi trường và cảm biến.
Việt Nam là một trong số nhiều quốc gia trên thế giới đang hướng tới viêc làm chủ công nghệ tổng hợp, đặc trưng tính chất và ứng dụng của vật liệu nano vào trong nhiều lĩnh vưc khác nhau. Trong bối cảnh trên, đề tài luận văn thạc sĩ : “Nghiên cứu tổng hợp những tắm nano graphene bằng phương pháp khứ hóa học” được thành lập nhằm mục đích chế tạo và nghiên cứu về lĩnh vực mới đầy hứa hẹn này.3 MỤC TIÊU CỦA ĐÈ TÀI e _ Tổng hợp được những tắm nano graphene bằng phương pháp hóa học. e Khảo sát và so sánh một số tính chất đặc trưng của những tấm nano graphene thu được.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU e Oxy hoa graphite thanh graphite oxit và phân tán graphite oxit trong dung môi phân cực dé thu được những lớp graphene oxít. graphite oxide Hinh.1 Ôxy hóa graphite thành graphile oxi.
Luận văn thạc sĩ 2014 © Khử graphite oxít để thu được graphene.2 Khử graphite oxít để thu được graphene.5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1.1 Quy trình thí nghiệm tổng hợp tắm đa và đơn lớp nano graphene oxít (GO) bằng phương pháp Hummor sửa đỗi Vật liệu ban đầu: Bột graphite, H2SO4, H3PO4, HCI (5%), KMnO¿, H;O;, dung mdi (CH3),NC(O)H (DMF), Monohydrazine. 1 gram bột (hoặc tam graphite) 46 ml H2S04 12 ml H:POx 12 gram KMnOx Cua trình oxát hóa Graphene oxit (GO) + 90 ml nuéc cat, lu giữ ở 90°C, thời gian 5 giờ % 15 ml HạO; Rửa với axít HCI(59%) 3 lẫn, và rửa với nước cắt cho đến khi độ pH=7 ;y tâm ở tốc độ 10000- 15000 rpm, thời gian 3h Đơn/đa lớp nano Go Hinh.3 Quy trinh thí nghiệm tổng hợp tắm nano GO.2 Khử hóa học GO thành graphene Tỷ lệ GO : monohydrazine = 100mg:1ml. Quá trình khử được tiễn hành ở 95 + 5°C và thời gian khử khoảng 10h. 95+#5C Graphene Thời gian: 10h Hình.4 Khử hóa hoc GO thanh graphene.3 Phủ màng mỏng graphene lén dé Si Đề nhận tạo những màng mong graphene trén dé Si, những tắm nano graphene vừa nhận được chúng tôi tiến hành phủ trên nền Si bằng phương pháp phun phủ sử dụng đầu phun của Nhật Bản (Richpen 112B Japan 20207) kết hợp với một bình khí nen: ¢ Diéu kién phun phi: - _ Nhiệt độ phủ khoảng 150-200°C.
- _ Khoảng cách từ đầu phun tới đề Sỉ: 20 em - _ Tốc độ phun phủ: Iml dung dịch/phút - _ Kích thước của màng graphene (1. Độ dày của màng graphene (200-800nm). - _ Độ dày mỏng của màng graphene được điều chỉnh bằng cách thay đổi thê tích của dung dịch chứa tam nano graphene. Luận văn thạc sĩ 2014 Súng phun phủ y “=7 My Đề GO/RGO bạ Spray coating Hinh 1.5 So do thiét bi tao mang graphene trén dé Si.6 CACH TIEP CAN, PHUONG PHAP NGHIEN CUU 1.1 Các phương pháp nghiên cứu chung Hình dạng, kích thước, cấu trúc, tính chất tỉnh thể, thành phần hóa, tính chất quang và tính chất điện của tấm nano graphene sé được nghiên cứu bằng những phương pháp hiện đại: Hiển vi điện tử quét (SEM), hiển vi điện tử truyền qua (TEM), hiển vi lực nguyên tử (AFM), nhiễu xạ tia X (XRD), phổ quang điện tử tia X (XPS), phô tán xạ Raman, phô hấp thụ hồng ngoại (FTIR), phổ tử ngoại và khả kiến (UV-Vis), hệ đo đặc tuyến volt-ampere.2 Các phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật cụ thể “> Phương pháp Hummor chỉnh sửa sẽ được ứng dụng để tổng hợp những tấm nano graphene oxit.
* Phương pháp khử hóa học để chuyển đổi GO thành graphene. “> Phương pháp phun phủ: Sử dụng áp lực khí để phủ màng mỏng graphene lên trên để Sỉ. Luận văn thạc sĩ 2014 CHƯƠNG 2 CO SO LY THUYET Luận văn thạc sĩ 2014 2.1 GIỚ THIỆU VỀ GRAPHENE Graphene là đơn lớp phân tử carbon sắp xếp chặt chẽ trong mạng tỉnh thể hai chiều hình tổ ong và nó là cơ sở cho các loại vật liệu carbon khác. Ta có thể cuộn tròn graphene lại để tạo quả cầu fullerenes hay còn gọi là quả cầu Bucky (0 chiều), hay cuộn lớp graphene lại để thành ống carbon nanotube (1 chiều), hoặc xếp chồng các lớp graphene lại dé tạo thanh graphite (3 chiều) Graphene, câu trúc 2D Ø arbon nanotube, Graphite, cau truc 1D câu trúc 3D Fullerene, câu trúc 0] Hình 2.] Một số dạng thù hình của carbon.
Về mặt lý thuyết, graphene đã được nghiên cứu khoảng 60 năm nay và được sử dụng rộng rãi để môn tả tính chất các loại vật liệu khác nhau làm từ carbon. Cách đây hơn 70 năm, Landau và Pelerls đã biện luận rằng mang tinh thé hai chiéu nghiêm ngặt như graphene kém bền về mặt nhiệt động lực học và không thể tồn tại. Lý thuyết của họ chỉ ra rằng sự phân kỳ trong đóng góp của thăng giáng nhiệt trong mang tinh thé hai chiều có thể dẫn đến độ dời của các nguyên tử ở nhiệt độ hữu hạn là đáng kể so với khoảng cách giữa các nguyên tử. Vì vậy vật liệu 2D này Luận văn thạc sĩ 2014 được xem là không tồn tại cho đến năm 2004, khi những thí nghiệm phát hiện ra graphene và các mạng tỉnh thể hai chiều tự do khác được công bố.
Điều quan trọng là các mang tinh thể hai chiều được tìm ra không chỉ liên tục mà còn thể hiện phẩm chat tinh thé cao. Pham chat mang tinh thé cao thé hién ré nhất trong trường hợp graphene. Trong graphene hat tai cd thé di chuyển quãng đường gấp ngàn lần khoảng cách giữa các nguyên tử <<a in ee s.yế TK Cho 22 Graphene là mạng lưới tổ ong hai chiều của carbon. Một vài thông số của mạng Graphene: e Hang sé mang: a=2,46A e Vecto cơ sở: È¡, È; e Vecto mang dao by › b, e CƠ SỞ: gồm hai nguyên tử A: (0;0) và B: G 5) ¢ Dién tích của ô don vi A,= 0,051 nm’ va mat dé nguyén tir tuong tmg 1a n, = 39 nm’.
10 Luận văn thạc sĩ 2014 Hình 2.3 Mạng tỉnh thể lục giác của lớp graphene; È\ và È¿ là véc tơ đơn vị, A và B là khoảng cách giữa hai nguyên tử trong 6 don vi.2 GRAPHENE OXÍT (GO) Đa số các quy trình tổng hợp graphene đều liên quan đến sản phâm graphene oxít bằng cách ôxy hóa graphite ban đầu bởi những tác nhân có tính ôxy hóa cực mạnh. Hầu hết phương pháp Staudenmeier hay Hummers được dùng để tạo ra GO, và vật liệu có tính tách bóc cao này được phân tán trong nước. Trên bề mặt và mép của các lớp GO lúc này được gắn thêm các nhóm chức có chứa ôxy. Theo nhiều nghiên cứu cho thấy ba loại nhóm chức có mặt phổ biến trong GO là: epoxide (-O-), hydroxyl (-OH), và carboxyl (-COOH) [5].
Nhóm chức epoxide được gắn vào bề mặt trên và dưới của lớp GO, còn hydroxyl và carboxyl được gắn vào mép của lớp GO như trong hình 2. GO có tính cách điện, nó cần được khử oxi để trả về trạng thái, tính chất điện cua graphene.