LỜI MỞ ĐẦU Dầu nhờn ngày nay đƣợc sử dụng với một lƣợng rất lớn cho nhiều mục đích khác nhau nhƣ bôi trơn, làm mát, làm sạch…trong các động cơ, máy móc công nghiệp… Khác với các loại nhiên liệu hóa thạch, sử dụng dầu nhờn ít phát thải chất độc hại do mục đích chính là bôi trơn, không phải là đốt cháy tạo năng lƣợng. Tuy nhiên cũng giống các nhiên liệu khoáng, dầu nhờn vẫn có thể gây ra các vấn đề ô nhiễm nếu bị phát tán ra môi trƣờng, đặc biệt là các loại dầu nhờn thải. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tính chất ô nhiễm do phát tán là khả năng phân hủy sinh học không cao, làm tăng thời gian lƣu trữ ngoài môi trƣờng của những phân tử có hại nhƣ các hydrocacbon thơm, các hợp chất đa vòng chứa lƣu huỳnh… Những năm gần đây, một sản phẩm có tiềm năng lớn để thay thế một phần việc sử dụng dầu nhờn khoáng, gọi là dầu nhờn sinh học. Dầu nhờn sinh học là thuật ngữ chung để chỉ các hợp chất hữu cơ có tính chất của dầu nhờn khoáng nhƣ bôi trơn, làm kín, làm mát, chống oxi hóa… nhƣng đƣợc chế tạo từ những nguồn nguyên liệu sinh học có khả năng tái tạo, trong đó phổ biến nhất là từ các loại dầu, mỡ động thực vật.
Quy trình sản xuất dầu nhờn sinh học phải đi qua bƣớc biến tính dầu thực để tạo ra dầu nhờn gốc có các tính chất hóa, cơ, lý tốt hơn, tƣơng đƣơng hoặc gần tƣơng đƣơng với dầu nhờn khoáng. Một trong những quy trình tổng hợp dầu nhờn sinh học đƣợc quan tâm nghiên cứu nhất hiện nay dựa trên quá trình oxi hóa chọn lọc liên kết bội trong mạch cacbon của dầu thực vật để tạo ra các epoxit, sau đó mở vòng, biến tính các epoxit này thành các ancol hoặc este mới trên xúc tác axit. Xúc tác siêu axit rắn mesocacbon hóa là loại xúc tác có nguồn gốc hữu cơ, có thể chế tạo từ các loại sinh khối, đang là một trong những loại xúc tác dị thể tốt nhất, đƣợc ứng dụng nhiều trong các quá trình tổng hợp nhiên liệu sinh học. Ngoài ứng dụng đó, tiềm năng của xúc tác cacbon hóa cũng rất hứa hẹn đối với quá trình phá vòng epoxit và este hóa các nhóm chức -OH tạo thành – chính là quá trình tạo ra dầu nhờn sinh học gốc.
Ƣu điểm lớn nhất của xúc tác này là tính dị thể, độ axit và tính ổn định cao. Tuy nhiên, các phân tử gốc triglyxerit có trong dầu, mỡ động thực vật có kích thƣớc động học rất lớn gây khó khăn cho việc tiếp xúc giữa các tâm axit và nhóm chức cần tác động. Do vậy, chế tạo các loại xúc tác cacbon hóa mới, có cấu trúc mao quản trung HVTH: Nguyễn Quang Duy 1 bình (MQTB) với kích thƣớc mao quản phù hợp với kích thƣớc động học của triglyxerit để chuyển hóa dầu thực vật thành dầu nhờn sinh học gốc, có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn. Nghiên cứu đã lựa chọn vỏ trấu tại Việt Nam là nguồn nguyên liệu ban đầu để chế tạo xúc tác mesocacbon hóa, đồng thời sử dụng dầu thầu dầu cho phản ứng tổng hợp dầu nhờn sinh học.
Nội dung nghiên cứu sẽ tập trung vào quá trình chế tạo dầu nhờn sinh học, dựa trên một quy trình điều chế xúc tác mesocacbon hóa ổn định, có đầy đủ các đặc trƣng quan trọng nhất. HVTH: Nguyễn Quang Duy 2 Chƣơng 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. TỔNG QUAN VỀ DẦU NHỜN VÀ CÔNG DỤNG 1.
Công dụng của dầu nhờn a. Bôi trơn máy Dầu nhờn có nhiều công dụng trong đó công dụng quan trọng nhất là bôi trơn các bề mặt có chuyển động trƣợt giữa các chi tiết, làm giảm ma sát, do đó làm giảm tổn thất cơ giới trong động cơ dẫn đến tăng hiệu suất có ích của toàn động cơ. Nguyên nhân của việc giảm ma sát là do khi bôi trơn sẽ có sự thay thế ma sát trực tiếp giữa các chi tiết máy bằng ma sát nội tại của màng chất bôi trơn thể lỏng ngăn cách các chi tiết máy. Ma sát nội tại giữa các màng chất lỏng này luôn nhỏ hơn nhiều so với các dạng ma sát khác [1, 15, 16].
Chống ăn mòn kim loại Nƣớc là nguyên nhân góp phần gây nên sự rỉ sét của các chi tiết đƣợc chế tạo từ kim loại. Một thể tích nhiên liệu đốt cháy trong động cơ sinh ra một thể tích nƣớc; mặc dù phần lớn nƣớc ở thể hơi và thoát ra ống xả, tuy nhiên vẫn còn một ít đọng lại trong lòng xylanh. Hiện tƣợng này thƣờng xảy ra khi thời tiết lạnh hay khi động cơ chƣa đƣợc sƣởi ấm, thêm vào đó các sản phẩm phụ sinh ra do nhiên liệu cháy không hoàn toàn, ngoài ra còn các chất axit đƣợc tạo thành do sự oxi hóa dầu, vì vậy khả năng tạo rỉ sét và ăn mòn càng trở nên trầm trọng. Các chi tiết cần đƣợc bảo vệ chống lại sự ăn mòn và chống rỉ.
Dầu nhờn sẽ tạo một lớp màng mỏng phủ trên bề mặt các chi tiết ma sát có tác dụng chống rỉ trong thời gian ngừng hoạt động, nhất là những bộ phận ẩm ƣớt. Ngoài ra dầu nhờn còn có tác dụng hạn chế tối đa sự lan truyền các chất axit đƣợc sinh ra từ các loại nhiên liệu nhiều lƣu huỳnh trong động cơ diesel [1, 15, 16]. Làm mát máy Việc làm mát nhằm làm giảm nhiệt độ của các chi tiết máy. Nhiều ngƣời cho rằng việc làm mát động cơ hoàn toàn dựa vào hệ thống nƣớc làm mát.
Trên thực tế hệ thống nƣớc làm mát chỉ thực hiện đƣợc 60% công việc làm mát. Nƣớc chỉ làm mát phần trên động cơ là các đỉnh xylanh, lòng xylanh và các van; còn trục khuỷu, các ổ đỡ, trục cam, các bánh răng, pitong và nhiều chi tiết khác đƣợc làm mát bằng dầu nhờn. Qua HVTH: Nguyễn Quang Duy 3 số liệu thực nghiệm cho thấy nhiệt độ cháy thƣờng là 1090 – 1650°C, những phần chính của van có thể lên tới 540 –1095°C, nhiệt độ pitông có thể lên tới 540°C. Thiếc (Sn) và chì (Pb) là hai kim loại có nhiệt độ nóng chảy thấp, đƣợc dùng chế tạo các chi tiết trong bạc đỡ.
Chúng thƣờng mềm ra ở 180°C và nóng chảy ở 232°C ( Sn) và 327°C (Pb). Vì vậy nếu nhƣ không sử dụng dầu nhờn để tản bớt nhiệt sẽ làm cho kim loại của vòng bi nóng chảy ra và bị phá hủy. Nguyên nhân sinh nhiệt chủ yếu của động cơ là do ma sát giữa các bề mặt của chi tiết bên trong động cơ và do quá trình cháy của nhiên liệu. Dầu nhờn ở trạng thái lỏng chảy qua các bề mặt ma sát và mang theo nhiệt sẽ làm mát vật liệu.
Chức năng làm mát đòi hỏi dầu phải chịu nhiệt cao, không bị biến chất do tác dụng của oxy trong không khí ở nhiệt độ cao [1, 15, 16]. Làm kín máy Ở một số động cơ ô tô tại vị trí piston, máy phát, bơm thủy lực làm việc ở áp suất cao, do đó yêu cầu độ kín cao. Vì vậy dầu nhờn dựa vào khả năng bám dính và tạo màng lấp kín các khe hở, bảo đảm quá trình làm việc bình thƣờng cho thiết bị [1, 15, 16]. Làm sạch máy Dầu nhờn sẽ có tác dụng cuốn trôi các vẩy tróc, sau đó các cặn bẩn sẽ bị giữ lại tại các bộ phận lọc của hệ thống bôi trơn.
Trong động cơ diesel, khi nhiên liệu cháy tạo ra muội than sẽ bám cặn trên thành piston gây cháy xecmăng, làm nghẽn các bộ lọc. Trong động cơ dùng xăng pha chì, khi xăng cháy cũng tạo ra một lƣợng muội chì. Các hiện tƣợng trên góp phần tạo ra hai loại cặn trong dầu nhờn trong quá trình làm việc: cặn bùn và cặn cứng. -Cặn bùn đƣợc tạo thành do sự kết hợp giữa hơi nƣớc, bụi, sản phẩm xuống cấp và nhiên liệu cháy chƣa hoàn toàn.
Cùng với thời gian cặn bùn sẽ tích tụ nhiều, đóng cục lại sẽ làm hạn chế sự lƣu thông của dầu nhờn. -Cặn cứng là sản phẩm của quá trình oxi hóa các hợp phần kém ổn định có trong dầu tại nhiệt độ và áp suất cao. Cặn cứng làm thành lớp áo cứng trên các chi tiết có nhiệt độ cao của động cơ. Động cơ không thể làm việc một cách bình thƣờng nếu cặn cứng tích tụ nhiều trên các chi tiết của máy.
HVTH: Nguyễn Quang Duy 4 Dầu nhờn với phụ gia tẩy rửa sẽ có tác dụng ngăn cản sự tích tụ của cặn bùn, cặn cứng, giữ cho bề mặt các chi tiết luôn đƣợc sạch sẽ tạo điều kiện cho động cơ hoạt động tốt [1, 15, 16]. Chức năng bảo về bề mặt Sự tiếp xúc các chi tiết máy với các tác nhân gây ăn mòn nhƣ: oxy, độ ẩm của không khí, khí thải hay khí cháy từ nhiên liệu đốt trong động cơ hay các lò đốt, môi trƣờng làm việc dẫn đến bề mặt vật liệu bị oxy hóa hay bị ăn mòn. Vì vậy dầu nhờn có tác dụng tạo lớp màng bao phủ bề mặt các chi tiết ngăn cách sự tiếp xúc với các yếu tố môi trƣờng [1, 15, 16]. Thành phần dầu nhờn Dầu nhờn là một hỗn hợp đƣợc pha chế bằng cách trộn phụ gia và dầu gốc với tỷ lệ nhất định, tùy vào yêu cầu của sản phẩm mà ta sử dụng các loại phụ gia khác nhau và có tỉ lệ pha chế khác nhau.
Dầu nhờn = Dầu gốc + Phụ Gia Trong đó: Dầu gốc chiếm khoảng 95-99% khối lƣợng, còn phụ gia chiếm khoảng 0,01-5% khối lƣợng; cá biệt có loại dầu có hàm lƣợng phụ gia lên tới 10%. Dầu gốc (base oils) Theo định nghĩa của Viện Dầu mỏ Hoa Kỳ (API), dầu gốc dùng pha chế dầu nhờn bôi trơn đƣợc phân thành 5 nhóm nhƣ sau: -Dầu gốc nhóm I-Theo API phân loại thì dầu gốc nhóm I là dầu gốc có hàm lƣợng sulfur > 0,03%, hàm lƣợng hydrocacon bão hòa <90%, chỉ số độ nhớt 80-119 và đƣợc sản xuất với các quá trình xử lý bằng dung môi. Hiện nay đƣợc sử dụng nhiều cho dầu công nghiệp, dầu động cơ hàng hải hay dầu động cơ có tiêu chuẩn "thấp"-động cơ thế hệ cũ. Đặc tính độ nhớt động học cao nên dễ dàng pha chế các loại dầu từ: dầu cắt gọt kim loại, đến dầu xy lanh hay động cơ hàng hải, tàu thuỷ hay các loại dầu truyền động hay trợ lực tay lái.
-Dầu gốc nhóm II-Theo phân loại là dầu gốc có hàm lƣợng sulfur < 0.03%, hàm lƣợng hydrocacon bão hòa >90%, chỉ số độ nhớt 80-119. Đƣợc xử lý sản xuất bằng quá trình xử lý dung môi và có thêm xử lý bằng hydro. Dầu gốc nhóm II thông dụng để sản xuất dầu động cơ có độ nhớt SAE 10W-XX hay 15W-XX.