CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định và pháp luật về tội tham gia giao thông đường bộ theo Luật hình sự hiện hành. Khái niệm về tội vi phạm quy định và pháp luật về tội tham gia giao thông đường bộ Theo khoản 1 điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 “Vi phạm là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính” [39]. Như vậy, vi phạm hành chính gồm các đặc trưng: Là hành vi trái pháp luật, xâm phạm các quy tắc quản lý pháp luật của nhà nước; đây là hành vi có lỗi của cá nhân, tổ chức thực hiện, đối với tổ chức yếu tố lỗi phải được xác định với từng con người cụ thể; hành vi vi phạm hành chính được pháp luật quy định phải xử lý vi phạm hành chính và hành vi vi phạm đó không phải là tội phạm.
Theo Luật giao thông đường bộ năm 2008. Khoản 18 điều 3 quy định: “Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự” [38]. Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là yếu tố đặc trưng cơ bản của hoạt động giao thông, nó phản ánh tính nhanh chóng, hiệu quả trong quá trình tham gia giao thông. Vì thế, người ta luôn tìm mọi cách để nâng cao tốc độ khi tham gia giao thông nhằm rút ngắn thời gian, chi phí cho hoạt động giao thông vận tải.
Tuy nhiên, cũng ảnh hưởng rất lớn đến an toàn giao thông. Thực tế đã chứng minh khi tốc độ càng cao thì hoạt động giao thông càng nhanh chóng, thuận lợi nhưng yếu tố an toàn càng bị hạ thấp, các yếu tố nguy hiểm xuất hiện bất ngờ, thời gian xử lý ngắn làm cho tai nạn, va chạm không những dễ xảy ra mà khi đã xảy ra thì mức độ hậu quả thiệt hại cũng tăng lên gấp nhiều lần do tác động của lực quán tính chuyển động (động năng) quá lớn. Chính vì vậy, để bảo đảm an toàn giao thông và 6 hạn chế tới mức thấp nhất nguy cơ dẫn tới TNGT do nguyên nhân tốc độ của phương tiện giao thông cơ giới, tất cả các quốc gia trên thế giới đều quy định tốc độ tối đa cho phép khi tham gia giao thông đường bộ đối với từng loại phương tiện cơ giới. Để đáp ứng yêu cầu vận tải nước ta hiện nay, hệ thống đường bộ đang dần được cải thiện và nâng cấp, song song với nó là sự đầu tư về các phương tiện giao thông hiện đại, trọng tải cao.
Khi các tuyến đường được cải tạo, phương tiện giao thông hiện đại hơn thì tốc độ xe được nâng cao hơn, điều này giúp kinh tế, xã hội phát triển nước ta ngày càng phát triển. Việc nâng cấp hệ thống đường bộ, cầu đường giúp việc đi lại, vận chuyển hàng hóa, hành khách được thuận lợi, phục vụ tốt cho việc thông thương, tiết kiệm thời gian chi phí, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển…. Cùng với việc cải thiện, nâng cấp hệ thống giao thông đường bộ thì ở mỗi đoạn đường cần phải có quy định về tốc độ phù hợp, thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền vận động quần chúng về Luật giao thông và xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi quy định. Điều này sẽ giúp người điều khiển thực hiện đúng quy định khi tham gia giao thông, đảm bảo trật tự, an toàn giao thông.
Tuy nhiên, khi người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ vi phạm quy định với từng loại xe trên từng tuyến đường cụ thể sẽ dẫn tới việc vi phạm về tốc độ, nó liên quan trực tiếp đến việc gây mất an toàn giao thông, là nguyên nhân trực tiếp gây TNGT đường bộ với hậu quả thiệt hại tỷ lệ thuận với độ lớn của tốc độ di chuyển. Vậy “Hành vi điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định là hành vi có lỗi của người lái xe vi phạm vào các quy định về tốc độ tối đa được phép lưu thông trên đường bộ mà không phải tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính”. Mục đích của việc xử lý hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định là nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm nguy hiểm này để bảo đảm TTATGT, đồng thời qua xử lý giúp giáo dục nâng cao tính tự giác chấp hành pháp luật về TTATGT của người dân, đặc biệt là việc chấp hành quy định về tốc độ khi điều khiển xe cơ giới tham gia giao thông 7 đường bộ [35, tr. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam quy định tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - Giai đoạn từ năm 1945 đến 1999 Hoạt động giao thông vận tải trên đường bộ là hoạt động phổ biến và có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên cũng đem đến các ảnh hưởng tiêu cực.
Qua các nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tế đặt ra yêu cầu phải đề ra các quy định luật pháp về hoạt động này một cách cụ thể, rõ ràng đảm bảo ổn định chung cho giao thông đường bộ, kịp thời nắm bắt tình hình Bộ Công an đã tham mưu với Đảng và Nhà nước ra các quy định về vận tải hành vi điều khiển xe cơ giới đường bộ chạy quá tốc độ quy định: Căn cứ điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo [38]. - Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ năm 1999 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 Trong các quy định về ATGT vận tải BLHS 1985 và quy phạm pháp luật quy định về tham gia GTĐB tại Điều 202 Bộ luật hình sự 1999, tác giả có sự so sánh: Thứ nhất: Trong hoạt động giao thông đường bộ thì phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về TTATGT nói chung là một hoạt động công tác của các cơ quan quản lý nhà nước về TTATGT nhằm chủ động ngăn chặn không để cho các hành vi vi phạm này diễn ra gây mất TTATGT. Công tác này do nhiều ngành, nhiều lực lượng cùng tham gia tiến hành thực hiện, trong đó có lực lượng CSGT là lực lượng được Đảng, Nhà nước và ngành Công an giao trọng trách bảo đảm TTATGT trên đường bộ. Trong quá trình tiến hành công tác phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về TTATGT đường bộ nói chung và điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ quy định nói riêng, lực lượng CSGT cần dựa trên các quy định của pháp luật giao thông đường bộ và các văn bản dưới luật có liên quan.
Đồng thời, huy động mọi lực lượng, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật để tiến hành các biện 8 pháp phòng ngừa theo chức năng, nhiệm vụ được giao để ngăn chặn, xử lý và loại bỏ những nguyên nhân, điều kiện dẫn tới hành vi vi phạm TTATGT nói chung và hành vi điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ vi phạm quy định nói riêng, không để chúng diễn ra gây mất TTATGT. Nói cách khác, phòng ngừa hành vi điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ vi phạm quy định theo chức năng của lực lượng CSGT là việc lực lượng CSGT tiến hành thực hiện các biện pháp công tác nhằm tác động đến người điều khiển phương tiện tham gia giao thông cơ giới đường bộ để họ chấp hành nghiêm chỉnh quy định về tốc độ khi tham gia giao thông đường bộ, không nhằm mục đích cá nhân mà thiếu ý thức chấp hành, chạy quá tốc độ quy định gây nguy hiểm cho người và phương tiện khác khi tham gia giao thông. Đồng thời, tìm ra những lý do khiến cho hành vi điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ chạy quá tốc độ quy định vẫn thường xuyên xảy ra, từ đó có những giải pháp ngăn chặn phù hợp, kịp thời. Các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định và pháp luật về tội tham gia giao thông đường bộ Theo quy định tại khoản 22 Điều 3 Luật GTĐB năm 2008 thì “Người tham gia giao thông gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham gia GTĐB; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ” [35.
Vì vậy cần xác định rõ và cụ thể dấu hiệu pháp lý của tội phạm này với điều kiện tham gia GTĐB, như sau: - Khách thể của tội vi phạm Khách thể của hành vi tham gia phương tiện giao thông cơ giới đường bộ vi phạm quy định của lực lượng CSGT là quá trình lực lượng CSGT tiến hành các biện pháp công tác quản lý TTATGT theo chức năng, nhiệm vụ được giao nhằm phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn những nguyên nhân, điều kiện dẫn tới hành vi điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ chạy quá tốc độ quy định của người lái xe. Việc tiến hành các nội dung công tác quản lý TTATGT của lực lượng Cảnh sát giao thông là biện pháp nghiệp vụ công khai, dựa trên các văn bản, quy định của pháp 9 luật và quy định, quy trình công tác của ngành Công an. Trong quá trình tiến hành các nội dung công tác lực lượng CSGT phải tuân thủ và chấp hành theo đúng quy định của pháp luật, quy trình công tác và giữ đúng lễ tiết, tác phong, điều lệnh Công an nhân dân, văn hóa giao tiếp ứng xử khi tiếp xúc với quần chúng nhân dân. Do vậy, hoạt động phòng ngừa hành vi điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ chạy quá tốc độ quy định của lực lượng Cảnh sát giao thông là hoạt động công khai, dựa trên quy định của pháp luật về bảo đảm TTATGT.
- Mặt khách quan của tội phạm TTATGT là một hoạt động rất rộng, có liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp và nhiều lực lượng khác nhau và có liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội.