phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung của luận án gồm 150 trang, đƣợc chia thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về TCLTKT - Chƣơng 2: Các nhân tố ảnh hƣởng và thực trạng TCLTKT tỉnh Nghệ An giai đoạn 2001 – 2010 - Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp TCLTKT tỉnh Nghệ An đến 2020 luan an 14 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ 1. Các lý thuyết có liên quan 1. Phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội là một qu á trình liên tục , hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử của nhân loại , đƣợc khởi đầu và kết thúc bởi sƣ̣ trao đổi hàng hóa [106].
Phân công lao động xã hội tạo ra sự chuyên môn hóa (CMH) sản xuất và từng ngành nghề riêng biệt làm cho hoạt động sản xuất ngày càng đa dạng, phong phú và rộng khắp. Phân công lao động xã hội đƣợc biểu hiện cụ thể dƣới hai hì nh thƣ́c cơ bản nhất là phân công lao động theo ngành và phân công lao động theo lãnh thổ. Phân công lao động xã hội theo ngành là việc tổ chức lao động xã hội theo các ngành để tạo ra những sản phẩm cụ thể đáp ứng yêu cầu của xã hội. Nó phát triển từ thấp đến cao ; tƣ̀ nông nghiệp đến công nghiệp và dị ch vụ , phản ánh trình độ phát triển nền kinh tế của một lãnh thổ cụ thể [106].
Phân công lao động xã hội theo ngành có xu hƣớng tạo ra sản phẩm hàng hóa v ới số lƣợng ngày càng lớn và chất lƣợng ngày càng cao. Tƣ̀ đó tạo ra sƣ̣ chuyển biến tƣơng ƣ́ng về phân công lao động xã hội theo lãnh thổ. Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ là việc tổ chức lao động xã hội theo ngành gắn với lãnh thổ , làm cho lãnh thổ có chức năng tƣơng đối riêng và công năng tƣơng đối khác nhau. Quá trình thực hiện cụ thể hóa phân công lao động xã hội theo lãnh thổ cũng chí nh là việc tiến hành phân công lao động xã hội ở các cấp lãnh thổ nhỏ hơn và đồng thời với việc phát huy tác dụng của các mối liên hệ kinh tế giƣ̃a các lãnh thổ [106].
Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ , một mặt tạo ra sƣ̣ cân đối hợp lý giƣ̃a các vùng trong một quốc gia , giƣ̃a các đị a phƣơng , các thành phố trong một vùng , mặt khác, với sƣ̣ chuyên môn hóa – sản xuất những ngành riêng biệt lại tạo ra màu sắc riêng (tính khác biệt) cho mỗi vùng – lãnh thổ. luan an 15 Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ đƣợc coi là cơ sở khoa học để xem xét cách kết hợp sản xuất với tự nhiên trên phạm vi các cấp lãnh thổ (huyện, tỉnh, vùng, quốc gia và cả quốc tế. Do đó có thể thấy rằng phân công lao động xã hội có mối liên hệ mật thiết với TCLTKT, là cơ sở nền tảng để TCLTKT. Một số lý thuyết và quan điểm liên quan đến TCLTKT a.
Lý thuyết định vị công nghiệp (1909) Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn về vấn đề định vị của các xí nghiệp công nghệp ở Đức, năm 1909, A.Weber công bố Über den Standort der Industrie (Theory of the Location of Industries – lý thuyết về sự định vị trong công nghiệp). Trong công trình của mình, dựa trên nguyên tắc “Cực tiểu hoá chi phí, cực đại hóa lợi nhuận”, A.Weber đƣa ra mô hình không gian về phân bố công nghiệp. Theo ông, để xác định địa điểm bố trí một xí nghiệp công nghiệp cần phải quan tâm tới ba yếu tố chính: vận tải, lao động và tập trung. Cụ thể: chi phí vận tải rẻ nhất (đƣợc coi là nguyên nhân căn bản), chi phí về nhân công rẻ nhất và là nơi có xí nghiệp tập trung để có thể sử dụng phế liệu làm nguyên liệu rẻ tiền.Weber thực ra là “một hệ quy chiếu của kinh tế học thuần túy trong lĩnh vực không gian”, chứng minh tầm quan trọng của sự định vị trong việc làm giảm các chi phí nói trên.
Những đề xuất của A. Weber tuy đơn giản nhƣng có giá trị thực tế, cắt nghĩa đƣợc một cách hợp lý sự định vị công nghiệp của một hay một vài xí nghiệp. Tuy nhiên, ngày nay với sự lớn mạnh của nền công nghiệp thế giới và của từng quốc gia, hình thức sử dụng không gian mới của công nghiệp đã xuất hiện và phát triển nhanh. Hình thức định vị mới đó bao gồm nhiều xí nghiệp đƣợc xây dựng tập trung trên cùng một phạm vi lãnh thổ và đƣợc biểu hiện dƣới nhiều hình thức, nhƣ: KCN tập trung, khu chế xuất hay CCN.[63] Trong điều kiện CNH – HĐH diễn ra mạnh mẽ nhƣ hiện nay, định vị công nghiệp dựa trên ba yếu tố trên là chƣa đủ, chúng không đảm bảo sự phát triển lâu dài bởi tác động môi trƣờng do hoạt động công nghiệp là rất lớn.
Do đó, bố trí không gian sản xuất công nghiệp còn phải chú ý đến đánh giá tác động môi trƣờng và các biện pháp khắc phục. Lý thuyết “Vị trí trung tâm” (1933) W.Losch, hai nhà bác học ngƣời Đức đã góp phần to lớn luan an 16 trong việc khám phá quy luật phân bố không gian và nghiên cứu các hệ thống không gian cơ sở để xác định các nút trọng điểm bằng lý thuyết “Vị trí trung tâm” (Central Place Theory).Christaller cho rằng, vùng không thể phát triển nếu không có trung tâm hạt nhân (thành phố), giữ vai trò đầu tàu lôi kéo sự phát triển của cả lãnh thổ; không có nông thôn nào lại không chịu chỉ đạo của một cực hút, đó là thành phố. Ông đề xuất mô hình bố trí các điểm dân cƣ theo hình lục giác. Trong đó, các trung tâm tồn tại theo nhiều cấp, từ cao tới thấp với quy mô thị trƣờng khác nhau.
Bán kính giữa các trung tâm chính là vùng ảnh hƣởng và vùng tiêu thụ hàng hóa của chúng. Lý thuyết trung tâm của Christaller sau đó đã đƣợc nhà bác học ngƣời Đức – A.Losch bổ sung và phát triển.Losch cho rằng có một điểm trung tâm quan trọng nhất là thành phố, đầu mối của toàn bộ hệ thống các điểm dân cƣ. Vai trò thƣơng mại và dịch vụ của nó tác động mạnh mẽ đến các khu vực lân cận chịu ảnh hƣởng của thành phố [72, tr. Kết quả nghiên cứu của W.Losch có ý nghĩa mở đƣờng cho việc nghiên cứu các hệ thống không gian hoặc xác định các nút trọng điểm trong một lãnh thổ nhất định.Trong TCLT KT cấp tỉnh, có thể vận dụng nó để xác định hệ thống đô thị làm bộ khung lãnh thổ cho sự phát triển kinh tế chung và tạo cơ sở cho việc xây dựng các cực tăng trƣởng, cực phát triển kinh tế.
Lý thuyết cực tăng trưởng (1950) Lý thuyết cực tăng trƣởng đƣợc đề xƣớng vào năm 1950 bởi nhà kinh tế học ngƣời Pháp F.Perrous, sau đó đƣợc A.Myrdal, Friedman và H.Richardson tiếp tục nghiên cứu và phát triển. Theo lý thuyết này, sự phát triển kinh tế không phải diễn ra một cách đồng đều theo một tốc độ nhƣ nhau trên tất cả các lãnh thổ, mà có xu hƣớng phát triển nhất ở một vài nơi. Những nơi đó có mức tăng trƣởng cao hơn nhờ vào sự phát triển của các ngành chủ đạo (leading industry) với năng lực đổi mới và khả năng mang lại lợi nhuận cao. Các ngành chủ đạo thƣờng tập trung tại một số thành phố lớn và đƣợc ƣu tiên phát triển trở thành “cực tăng trƣởng”.
Tập trung hóa về mặt lãnh thổ đạt tới một mức nhất định và sau đó hiệu ứng lan tỏa sẽ làm cho các cơ hội phát triển mới bắt đầu xuất hiện ở nhiều địa phƣơng khác. Kết quả là sự phát triển của một cực nhƣ một lãnh thổ trọng điểm sẽ luan an 17 có tác dụng nhƣ những “đầu tàu” lôi kéo sự phát triển của các vùng lãnh thổ khác, tạo điều kiện cho nền kinh tế cả nƣớc phát triển nhanh và mạnh hơn.14] Lý thuyết này chú trọng vào những lãnh thổ làm phát sinh sự tăng trƣởng kinh tế, đó là cực phát triển và cực tăng trƣởng. Cực phát triển là những trung tâm đã có sự phát triển hoàn thiện hoặc tƣơng đối hoàn thiện, có khả năng thúc đẩy sƣ̣ tăng trƣởng đối với các khu vƣ̣c xung quanh với những tác động lôi cuốn đa dạng và thể hiện khác nhau theo các hoàn cảnh đị a lý cụ thể. Cực tăng trƣởng là các trung tâm mới hình thành và đang phát triển, là các cực vệ tinh của cực phát triển.
Trên cơ sở “lực hút” và “lực đẩy” của mỗi trung tâm, hình thành nên vùng ảnh hƣởng của nó tới xung quanh. Từ triển vọng phạm vi ảnh hƣởng của mỗi trung tâm ngƣời ta có thể xác định đƣợc khu vực lãnh thổ để xây dựng điểm đô thị mới, làm cho tất cả các lãnh thổ đều có đô thị hạt nhân. Lý thuyết “Cực tăng trƣởng” nhấn mạnh lợi thế của phát triển không cân đối theo lãnh thổ. Đây là việc lý giải đúng đắn về sự cần thiết của phát triển kinh tế lãnh thổ theo hƣớng đầu tƣ có trọng điểm.
Do đó, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nƣớc đang phát triển còn thiếu vốn cần kêu gọi đầu tƣ nƣớc ngoài và thực tế nó đã đƣợc áp dụng rộng rãi và khá thành công ở các nƣớc châu Á , nhất là với các nƣớc ASEAN, trong đó có Việt Nam. Trong TCLTKT cấp tỉnh, lý thuyết của F.Perroux có thể đƣợc áp dụng để xây dựng và phát triển các cực tăng trƣởng và cực phát triển kinh tế nhằm khai thác và phát huy những lợi thế của những lãnh thổ này, tạo ra khả năng thúc đẩy đối với sự phát triển kinh tế của các lãnh thổ kế cận và toàn tỉnh. Quan điểm phát triển phi cân đối Đối với mỗi nền kinh tế quốc dân sẽ có những ngành , lĩnh vực có lợi thế phát triển thành nhƣ̃ng ngành , lĩnh vực mũi nhọn ; có những lãnh thổ do hội tụ đƣợc nhiều điều kiện thuận lợi nếu tập trung đầu tƣ sẽ tạo ra đƣợc sƣ̣ đột phá trong phát triển, trở thành lãnh thổ động lƣ̣c lôi kéo sƣ̣ phát triển chung. Quan điểm phát triển phi cân đối xuất phát vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX tƣ̀ Trung Quốc : “muốn đê toàn bộ đất nƣớc trở nên phồn thịnh thì nhất quyết một số vùng phải giàu lên trƣớc những vùng khác” (Đặng Tiểu Bình) [40,tr.