BỘ TƯ PHÁP © TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI DE TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CAP TRƯỜNG BAO DAM TÍNH XÃ HỘI CUA PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUI PHẠM PHÁP LUẬT MA SO: LH — 2015 — 400/DHL - HN Chủ nhiệm dé tai : TS. Bùi Thi Dao Thư ki dé tai : TS. Nguyén Ngoc Bich TRUNG TAM THONG TIN THU VIEN TRƯỜNG ĐA! HOC LUAT HÀ NỘI PHÒNG 00C_ 2 —___. Hà Nội, tháng 4 năm 2015 DANH MỤC CHUYÊN DE Nhóm chuyên dé lí luận về tính xã hội cua pháp luật và yêu cau bao đảm tính xã hội của pháp luật trong thực tiễn 1.
Quan niệm về tính xã hội của pháp luật 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính xã hội của pháp luật 3. Yéu cầu bảo dam tính xã hội của pháp luật ở Việt Nam hiện nay Nhóm chuyên đề bảo đảm tinh xã hội trong các hoạt động cu thé của quá trình xây dựng văn bản qui phạm pháp luật 1. Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động xác định nhu cầu điều chỉnh pháp luật 2.
Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động đánh giá pháp luật, tình hinh thi hành pháp luật, thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến dự thảo văn bản qui phạm pháp luật 3. Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động đánh giá tác động trong quá trình soạn thảo văn bản qui phạm pháp luật 4. Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động lấy ý kiến trong quá trình soạn thảo văn bản qui phạm 5. Bảo dam tính xã hội trong hoạt động thẩm tra, thâm định dự thảo văn bản qui phạm pháp luật 6.
Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động soạn thảo nội dung văn bản qui phạm pháp luật Chuyên đề sử dụng kết quả nghiên cứu của đề tài để kiến nghị xây dựng Luật Ban hành văn bản qui phạm phap luật 1. Kiến nghị xây dựng Luật Ban hành văn bản qui phạm pháp luật nhằm bảo đảm tính xã hội của pháp luật DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN STT HỌ VÀ TÊN ĐƠN VỊ CHUYÊN ĐÈ | TS. Nguyễn Ngọc Bích Đại học Luật HN 9 2. Bùi Thi Dao Đại học Luật HN 5,7, 8, 10 3 ThS.
Doan Thị Bạch Liên Đại học Luật HN 3 4 PGS. Lê Vương Long Đại học Luật HN 1,2 5 TS. Nguyễn Văn Năm Đại học Luật HN 4 6 | TS. Doan Thị Tố Uyên Đại học Luật HN 6 MỤC LỤC STT NOI DUNG TR 1 | Phan mo đầu 4 2 | Báo cáo tổng thuật 9 3 | Quan niệm về tính xã hội của pháp luật 41 4 | Các yếu tổ ảnh hưởng đến tính xã hội của pháp luật 52 5 Yêu cầu bảo đảm tính xã hội của pháp luật ở Việt Nam hiện nay 69 6 Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động xác định nhu cầu 80 điều chỉnh pháp luật 7 | Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động đánh giá pháp | 90 luật, tình hình thi hành pháp luật, thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến dự thảo văn bản qui phạm pháp luật 8 | Bảo đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động đánh giá tác động | 99 trong quá trình soạn thảo văn bản qui phạm pháp luật 9 | Bảo đảm tinh xã hội của pháp luật trong hoạt động lấy ý kiến trong| 114 quá trình soạn thảo văn bản qui phạm 10 | Bảo đảm tính xã hội trong hoạt động thẩm tra, thẩm định dự thảo văn | 124 bản qui phạm pháp luật 11 | Bao đảm tính xã hội của pháp luật trong hoạt động soạn thảo nội | 134 dung văn bản qui phạm pháp luật 12 |Kiến nghị xây dựng Luật Ban hành văn bản qui phạm pháp luật| 146 nhằm bảo đảm tính xã hội của pháp luật 13 | Danh mục tài liệu tham khảo 155 PHAN THỨ NHAT MO DAU 1.
Tinh cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trong mọi xã hội có nhà nước, pháp luật luôn được coi là phương tiện chủ yếu dé nhà nước quan lí xãhội. Xét về bản chất, pháp luật của nhà nước nào cũng vừa có tính giai cấp, vừa có tính xã hội. Pháp luật có tính giai cấp vì pháp luật được ban hành bởi nhà nước- một tô chức của giai cấp cam quyền và pháp luật luôn có mục đích bảo vệ lợi ích của giai cấp cảm quyền. Pháp luật có tính xã hội vì pháp luật được ban hành ra dé điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các cơ quan, tô chức, cá nhân trong xã hội nhăm đảm bảo sự hài hòa trong sự tồn tại, phát triển của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.
Pháp luật không chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền mà còn bảo vệ lợi ích của các cá nhân, tổ chức khác trong xã hội. Pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp cam quyền nhưng không có nghĩa ý chí đó là tuyệt đối mà ý chí của giai cấp cầm quyền bị chỉ phối bởi những điều kiện xã hội cụ thê từ đó pháp luật nảy sinh và trong đó pháp luật được thực hiện. Đồng thời, ý chí của các giai cấp, tầng lớp khác của xã hội cũng được thé hiện trong pháp luật ở những mức độ nhất định. Mặc dù pháp luật luôn có tính giai cấp và tính xã hội nhưng mức độ và cách thức thé hiện của tính giai cấp, tính xã hội của pháp luật ở mỗi nhà nước, mỗi 'giai đoạn lịch sử đều có sự khác nhau.
Trong những thời kì xa xưa, ở các chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, tính giai cấp của pháp luật thường được coi là trội hơn so với tính xã hội. Khi đó pháp luật được sử dụng như là phương tiện để giai cấp cầm quyền thống trị xã hội, thực hiện sự cai trị đối với các giai cấp, các tầng lớp khác. Tuy nhiên, xã hội phát triển đã kéo theo sự thay đôi về vai trò của pháp luật. Ngày nay, xu hướng phổ biến trên toàn thế giới là nhà nước chuyển từ nhà nước cai trị sang nhà nước phục vụ.
Các nhà nước đều sử dụng pháp luật dé quản lí hướng tới một xã hội phén thịnh nói chung. Không những thé, ở tat các quốc gia hiện nay đều có những van đề gần như thoát li hoàn toàn yếu tố giai cấp như vẫn đề bảo vệ môi trường, chống tác động xấu do biến đổi khí hậu. Tất cả những điều đó đã khiến cho tính xã hội của pháp luật ngày càng được coi trọng và phải được thê hiện rõ trong tỉnh thần chung cũng như trong các qui định cụ thể của pháp luật. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới.
Tuy nhiên, do những yếu tố đặc thù về lịch sử, chúng ta mới thoát ra khỏi chế độ phong kiến chưa lâu và ngay sau đó lại là một thời gian chiến tranh với nhận thức, tư duy mang nặng tính chủ quan, duy ý chí nên ít nhiều đã làm cho pháp luật không thực sự xuất phát từ những điều kiện, hoàn cảnh xã hội cụ thể, đã có lúc pháp luật lại chính là nhân tố cản trở xã hội phát triển. Ké từ khi Dang chủ trương đôi mới nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đôi mới cơ chế quản lí kinh tế kéo theo sự biến đổi sâu sắc nhiều lĩnh vực xã hội khác thì nhận thức về vai trò của pháp luật trong đời sống cũng có những thay đổi căn bản. Mặc dù vậy, do thói quen, nếp nghĩ cũ đã ăn sâu không dễ gì xóa bỏ ngay, cũng như tư duy mới đòi hỏi cách làm mới không tránh khỏi lúng túng nên pháp luật vẫn chưa đảm bảo được tính xã hội ở mức độ đòi hỏi của xã hội dân chủ, hiện đại. Hàm lượng, mức độ biểu hiện của tính xã hội của pháp luật trong pháp luật thực định như thế nào trước hết phụ thuộc vào nhận thức của nhà nước, của xã hội nói chung dẫn đến quyết tâm ghi nhận, bảo đảm tính xã hội của pháp luật.
Sau nữa, tính xã hội của pháp luật có được ghi nhận, bảo đảm hay không còn phụ thuộc vào các hoạt động cụ thể trong quá trình ban hành các văn bản qui phạm pháp luật. Hiện nay, thủ tục ban hành văn bản qui phạm pháp luật về cơ bản được quan tâm cả trong các qui định về thủ tục ban hành văn bản và trên thực tiễn thực hiện hoạt động này. Tuy nhiên, tất cả các hoạt động đó đều có hai tầng ý nghĩa: một là, các hoạt động đó thuần túy là qui trình, là thủ tục thực hiện việc ban hành văn bản qui phạm pháp luật; hai là, thông qua các hoạt động đó dé chuyền tải các vấn đề xã hội vào từng qui định của pháp luật. Trong đó, tầng ý nghĩa thứ nhất được thé hiện tương đối tốt trên thực tế, nhưng tầng ý nghĩa thứ hai thì chưa thực sự được coi trọng và chính ở đây xuất hiện nhu cầu xem xét một cách nghiêm túc, khoa học dé thay được tính xã hội của pháp luật cần và có thé được bảo đảm như thé nào thông qua các hoạt động trong quá trình xây dựng văn bản qui phạm pháp luật để pháp luật thực sự là phương tiện quản lí tốt nhất dé thúc đây xã hội phát triển nhanh, mạnh và bền vững.
Tình hình nghiên cứu Liên quan đến hoạt động xây dựng văn bản qui phạm pháp luật có khá nhiều các công trình nghiên cứu khác nhau, bao gồm các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành về nhà nước và pháp luật; các luận văn thạc sĩ; đề tài khoa học. Có thể ké đến các công trình: Một là, các bài tạp chí: Bàn về kĩ thuật lập hiến của GS. Trần Ngọc Đường, Bàn vệ việc lấy ý kiến nhân dân đối với Dự thảo Hiến pháp của Ths. Tào Thị Quyên, Đánh giá tác động pháp luật của TS.
Nguyễn Thị Kim Thoa và ThS. Nguyễn Thi Hạnh, Tham vấn công chúng của Nguyễn Đức Lam, Thẩm tra và giá trị của thẩm tra của PGS.TS Phan Trung Lý, Hoàn thiện qui định của pháp luật vê qui trình, thủ tục rút gọn trong hoạt động lập pháp của Quốc hội của TS. Vũ Hồng Anh, Kiểm tra trước văn bản pháp luật của ThS. Bùi Thị Đào, Nhân dan đóng góp ý kiến cho dự thảo văn bản qui phạm pháp luật của ThS.
Bùi Thị Dao.