CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE HE THONG THỦY LỢI BAC HUNG HAI VA CÁC CONG TRINH CHINH 1.DAC DIEM TỰ NHIÊN VÀ DÂN SINH KINH TE VUNG NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý, phạm vỉ hành chính Hệ thống Thuỷ nông Bắc Hưng Hải nằm ở giữa đồng bằng sông Hồng, vị trí được xác định theo toạ độ: - 20°30’ đến 21°07’ vĩ độ Bac - 105°50’ đến 106°36’ kinh độ Đông Hệ thống Bắc Hưng Hải được bao bọc bởi 4 con sông lớn: - _ Sông Đuống ở phía Bắc với độ dài phần chảy qua hệ thống là 67km; - _ Sông Luộc ở phía Nam với độ dài phần chảy qua hệ thống là 72km; - Sông Thái Bình ở phía Đông với độ dài phần chảy qua hệ thống là 73km; - _ Sông Hồng ở phía Tây với độ dai phần chảy qua hệ thống là 57km. Tổng diện tích tự nhiên là 214.932ha, điện tích phần trong đê là 192.045 ha; đất nông nghiệp là 146.756 ha bao gồm đất đai của toàn bộ tỉnh Hưng Yên (10 huyện), 7 huyện thị của Hải Dương, 3 huyện của tỉnh Bắc Ninh và 2 quận, huyện của thành phố Hà Nội. Đặc điểm địa chất - địa hình và các quá trình địa mạo Địa hình có xu hướng dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam hình thành 3 vùng chính: Vùng ven sông Hồng , sông Đuống cao độ pho biến (+4,0m), chỗ cao nhất +8,0m + +9,0m.
Thanh phần gồm: đất pha cát, đất thịt nhẹ, ít chua, đất thấm nước cao, mực nước ngầm nam sâu. Vùng trung tâm với cao độ +2,0m đến +2,5m; Vùng ven sông Luộc, sông Thái Bình, cao độ phổ biến + 1,0m đến +1,5m. Noi thap nhất +0,5m, đất chua, nước ngầm nằm cao. Thổ nhưỡng và đặc điểm nền đáy các khu vực tưới tiêu nghiên cứu Đất đai được hình thành do phủ sa sông Hồng - Thai Bình, thành phần CƠ giới của đất từ thịt hẹ đến thịt pha nhiễm chua và nghẻo lân, chia ra thành các loại sau: 1 - Loại dat phù sa sông Hồng không được bồi màu nâu tham trung tính, ít chua, đây là loại đất tốt rất thích hợp cho trồng màu và lúa cao sản.
2 - Loại dat phù sa sông Hồng không được bồi lắng trung tinh ít chua glay trung bình, loại đất này có tầng phù sa dày, thành phần cơ giới đất thịt trung bình đến thịt nặng, loại đất này thích hợp cho cấy lúa 2 vụ. 3 - Loại đất phù sa sông Hồng có tầng loang lỗ không được bồi lắng, màu đất nâu nhạt, tầng phù sa mỏng, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, bị sét hoá mạnh, chất hữu cơ phân huỷ chậm thường bị chua, cần được cải tạo. Trong đó, chủ yếu là đất phù sa Giây của hệ thống sông Hồng (Phg) chiếm tỷ lệ điện tích lớn nhất. Đặc điểm khí hậu, khí tượng Lưu vực Bắc Hưng Hải nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, tuy không giáp với biển nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của khí hậu miền duyên hải, hàng năm chia hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, thời tiết nóng âm mưa nhiều.
Mùa đông lạnh, ít mưa từ tháng I1 đến tháng 3. - Mưa năm: Lượng mưa năm trung bình nhiều năm trong vùng nghiên cứu đạt 1. Vùng mưa lớn thường xuất hiện ở khu vực phía Nam và Đông Nam của hệ thống với lượng mưa trung bình năm đạt 1.548 mm tai Ninh Giang, 1.648 mm tại Hưng Yên, 1.523 mm tại Hải Duong. - Nhiệt độ: Nhiệt động trung bình năm 23,3 °C và khá đồng nhất.
- Độ ẩm: Độ âm tương đối trung bình năm 80-85%. 7 - Bốc hơi: Lượng bốc hơi trong toàn năm ở trong vùng từ 700 + 800mm. Lớn nhất là tháng 10 và 11 và nhỏ nhất là tháng 3. - Nang: Trung bình năm đạt 1.623 giờ tại Hải Dương, 1.473 giờ tại Hưng Yên, 1.589 giờ tại Hà Nội - Gió: Trung bình tháng năm đạt 1,1-2,4 m/s .Tốc độ gió lớn nhất khi có bão đạt trên 40 m/s, 23/8/1980 tại Hải Duong, 40,0 m/s tại Hưng Yên - Bão và áp thấp nhiệt đới: Mưa to do ảnh hưởng của bão gây ngập lụt khá nghiêm trọng, lượng mưa do bão chiếm ty trọng lớn tới 15 + 20% tổng lượng mưa cả năm, tháng 8 lượng mưa do bão chiếm tới 30 + 50% tông lượng mưa tháng.
Đặc điểm mạng lưới sông ngòi Hệ thống Bắc Hưng Hải được bao bọc bởi 4 con sông lớn là: Sông Đuống ở phía Bắc, Sông Luộc ở phía Nam, Sông Thái Bình ở phía Đông và Sông Hồng ở phía Tây. Các sông nội đồng: Sông Kim Sơn, sông Đình Đảo, Sông Điện Biên, Sông Tây Kẻ Sat, Sông Dinh Đào, Sông Cau Xe (cống Cầu Xe), Tứ Kỳ (cống An Thỏ), Sông Cửu An, Sông Tràng Kỹ là sông tưới tiêu kết hợp, có nhiệm vụ dẫn nước tưới cho phần phía Đông của tiêu khu Gia Thuận, một phần tiêu khu Bắc Kim Sơn và phần phía Bắc của tiêu khu Cẩm Giàng. Đặc điểm kinh tế — xã hội 1.1 Hành chính Vùng nghiên cứu theo các quyét định phân chia địa danh hành chính mới nhất bao gồm địa giới hành chính của 4 tỉnh: toàn bộ tỉnh Hưng Yên, 7 huyện và Thành phố tỉnh Hải Dương, 3 huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh và 2 quận huyện thuộc thành phố Hà Nội. Các địa danh hành chính cụ thé bao gồm 343 xã, 34 phường với diện tích tự nhiên 214.93 Iha, dan số 2.1: Số liệu hành chính, diện tích, dân số hệ thống Bắc Hung Hải : R kon ko DT ty nhién Dân số 79.2 Dân cư và lao động - Dân cư, dân tộc: Vùng nghiên cứu là các tỉnh thuộc đồng bằng bắc Bộ, dân tộc ở đây chủ yếu là dân tộc Kinh sống định canh định cư từ đời này sang đời khác.
Mật độ dân số bình quân toàn vùng từ 1000 người/km2 đến 1200 người/km2, trong đó thành thị 2980 - 3800 người/km2, nông thôn là 1242 người/km2. Tỷ lệ nam nữ trong vùng gần như tương đương nhau khoảng 50%. Dân số ở thành thị là 501.621 người, nông thôn là 2.743 người chiếm 82% dân số toàn vùng. - Phân bố dân cư theo đơn vị hành chính: Theo số liệu thống kê năm 2004 của các tỉnh trong vùng nghiên cứu thì toàn bộ vùng có số dân là 2.
Trong đó Hải Dương chiếm 35% , Hưng Yên 41%, Bắc Ninh 13%, Hà nội 10%. - Tốc độ tăng dân số: Những năm gan đây, hưởng ứng phong trào kế hoạch hoá gia đình của Đảng và nhà nước nên tỷ lệ sinh con thư 3 đã giảm đáng kể. Theo thống kê thi tỷ lệ sinh trung bình toàn vùng là 1,4% - 1,7% đạt mức độ cho phép. - Lao động: Lua tuổi trong độ tuổi lao động chiếm 53%, đây là lực lượng chủ yếu làm cho kinh tế vùng phát triển.
Lực lượng tham gia trong các ngành Nông — Lâm nghiệp là 77%, Công nghiệp là 9,5 — 9,7%, Thuong nghiệp là 3,6% còn lại là các ngành nghề khác. Nền kinh té chung Bảng 1.2 : Tổng giá trị GDP và GDP bình quân đầu người các tỉnh trong vùng GDP/người (triệu đồng) Hà Nội 41,011 8,269 Hải Dương 7,526 7,3 Hung Yén 8,239 7,3 Bac Ninh 8,344 8,36 1.4 Hiện trạng phát triển nông nghiệp Sử dụng đất nông nghiệp Tốc độ tăng trưởng trong ngành nông nghiệp đạt tương đối cao, bình quân trong thời kỳ 2000 - 2005 đạt 6 - 7%. Ngành chăn nuôi tang từ 23% lên 26%. Theo thống kê năm 2004 đất nông nghiệp toàn vùng là 142.391 ha, diện tích đất canh tác là 123.985 ha trong đó diện tích đất trồng lúa là 114.231 ha chiếm 88,6% diện tích đất canh tác.
Diện tích đất trồng màu và cây công nghiệp là 5.422 ha chiếm 4,3% đất canh tác. Diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 10.975 ha chiếm 7,5% DT đất nông nghiệp. Đất thô cư toàn vùng là 17.523 ha chiếm 7,8% đất tự nhiên trong đó đất đô thị chiếm 14% DT đất ở, còn lại là dat ở nông thôn 86%. Diện tích trồng lúa cả năm giao động trong khoảng từ 219.
Sản lượng lúa cả năm dat từ 1.781 tan, năng suất lúa trong vùng trung bình đạt 50-60ta/ha trong đó lúa vụ đông xuân năng suất cao hơn vụ mùa. Diện tích, năng suất, sản lượng một số năm xem.5 Chăn nuôi Đàn lợn trong vùng tăng từ 1. Đàn bo tăng từ 75. Đàn trâu giảm do hiện nay do cơ giới hóa tăng nên trâu chủ yếu nuôi dé làm thực phẩm.
Gia cầm trong vùng khoảng 13 triệu con năm 2003, năm 2004 do dịch cúm gia cam chi còn 11 triệu con.6 Lâm nghiệp Vùng nghiên cứu gồm các tỉnh đồng bang Bắc bộ nên diện tích rừng hầu như không có. Qua thống kê toàn vùng chỉ có 42,2 ha đất lâm nghiệp thuộc huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh. Diện tích rừng này là rừng trồng.7 Thuỷ sản Sự phát triển về thuỷ sản của vùng nhanh, tốc độ tăng trưởng của nuôi trồng thuỷ sản đạt 19%, đánh bắt dịch vụ thuỷ sản tăng 17,7%. Tốc độ này cho thấy đầu tư cho phát triển thuỷ sản của vùng là mạnh.
Diện tích mặt nước được sử dụng để vào nuôi trồng thuỷ sản khoảng 10.065 ha, một phần diện tích úng - trũng sản xuất lúa kém hiệu quả đã được chuyên sang nuôi trồng thuỷ sản.8 Công nghiệp Trong những năm gân đây do cơ chê thị trường chuyên biên mạnh cộng với chính sách mở cửa của nhà nước Việt Nam, các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã có điều kiện dé mở rộng và phát triển sản xuất do vậy công nghiệp trong vùng phát triển mạnh cả về số và các chủng loại mặt hàng. Tập trung nhiều ở các thị xã, thành phó, các khu đô thị, dọc các trục đường chính của 11 vung như đường 5, đường 39.thi xã Hưng Yên, TP Hải Dương và Gia Lam.9 Giao thông Ngoài tuyên đường sat Hà Nội đi Hải Duong - Hai Phong trong vùng còn có mạng lưới đường bộ và đường thủy rất thuận tiện. Đường bộ: có quốc lộ 5, đường 39, đường 138, đường tỉnh lộ 39B, đường tỉnh lộ 182. Ngoài những trục đường chính trên trong vùng còn rất nhiều đường liên huyện, liên xã, tỉnh lộ khác như TL281, TL194, TL20, TL17, TL217.
Giao thông thuỷ: Ngoài hệ thống sông lớn bao boc bên ngoài, hệ thống sông nội đồng như: sông Kim Sơn, sông Cửu An ra sông Thái Bình và sông Luộc, một loạt các sông nối liền trục như các sông Điện Biên, Chi ân, Do đáy.và nhiều sông khác tạo thành một mạng lưới giao thông thuỷ rất thuận tiện cho nội vùng. Tai vi trí các công điều tiết lớn trên sông của hệ thống như Kênh Cầu, Lực Điền, Cống Tranh, Bá Thuỷ, Báo Đáp, Xuân Quan.đều có âu giao thông dé thông thuyền.