Chương 1 giới thiệu các kiến thức tổng quan về hệ thống điện và trình bày bố cục nội dung luận văn. Chương 2 trình bày chung về kiến thức tổng quan cho kỹ thuật phân tích đáp ứng tần số (FRA) cho việc chẩn đoán sự cố bên trong máy biến áp lực và những đặc tính, cấu hình đo liên quan đến kỹ thuật phân tích đáp ứng tần số. Chương 3 tìm hiểu, giới thiệu các mô hình máy biến áp lực, từ đó đưa ra các mô hình thông số điện cho máy biến áp lực phục vụ cho việc phân tích, mô phỏng trong chương 4 và chương 5. Chương 4 giới thiệu về phương pháp xác định giá trị thông số điện dung trong mô hình thông số phân bố MBA, nhằm thực hiện tính toán giá trị thông số điện dung để xây dựng mô hình cho việc mô phỏng.
Chương 5 giới thiệu các kết quả thu được từ các phép đo và mô phỏng, dựa trên các kết quả đạt được đưa ra các phân tích đánh giá cho kết quả nghiên cứu. Chương 6 kết luận và đề nghị hướng phát triển trong tương lai liên quan đến nghiên cứu. Chương 2: Kỹ thuật phân tích đáp ứng tần số và ứng dụng 4 CHƯƠNG 2: KỸ THUẬT PHÂN TÍCH ĐÁP ỨNG TẦN SỐ VÀ ỨNG DỤNG Chương này trình bày những kiến thức, nguyên lý kỹ thuật phân tích đáp ứng tần số và ứng dụng kỹ thuật phân tích đáp ứng tần số cho máy biến áp lực.1 Kỹ thuật phân tích đáp ứng tần số (FRA) Kỹ thuật phân tích đáp ứng tần số (FRA – Frequency Response Analysis) là một dạng phân tích chẩn đoán sự cố điện và cơ trong máy biến áp lực (MBA) dựa trên thí nghiệm về điện và đã được tiêu chuẩn hóa theo CIGRE-2008 [1], IEC 60076-18 [2] và IEEE PC57.1 Các loại sự cố áp dụng FRA Theo IEC 60076-18 [2], FRA có thể dùng để phát hiện các thay đổi trong những phần hoạt động của đối tượng kiểm tra (như cuộn dây, kết nối và bộ phận lõi). FRA thường dùng để phát hiện việc thay đổi cấu trúc hình học và ngắn mạch trong các cuộn dây.
FRA có thể ứng dụng để đánh giá mức độ các sự cố trong MBA như sau: Sự cố hay thí nghiệm ngắn mạch dòng lớn Sự cố với bộ điều áp Sự cố thay đổi cấu trúc cơ khí MBA do vận chuyển hay tác động ngoại lực Tiêu chuẩn IEEE PC57. FRA còn ứng dụng để phát hiện các sự cố cuộn dây hở mạch, có điện trở tiếp xúc lớn, ngắn mạch giữa có vòng dây. Phương pháp phân tích đáp ứng tần số là một công cụ chẩn đoán để phát hiện các sự cố và hư hỏng về điện và cơ thể hiện qua sự biến dạng cuộn dây và sự dịch chuyển của mạch từ của MBA. Các nghiên cứu từ các trường hợp thực tế đã cho thấy tính hiệu quả của kỹ thuật này.2 Các phép đo đáp ứng tần số FRA là công cụ mạnh để phát hiện được những vấn đề sự cố về cơ cũng như về điện bên trong MBA mà các phương pháp khác không có khả năng phát hiện được.
Việc biết được tình trạng bên trong MBA sẽ cho phép chúng ta có thể vận hành MBA ở mức tải lớn nhất mà không gây tác hại đến độ tin cậy. Chương 2: Kỹ thuật phân tích đáp ứng tần số và ứng dụng 5 Kỹ thuật phân tích đáp ứng tần số (FRA) đã được phát triển qua nhiều năm kể từ khi nó được đưa ra từ thập niên 1960. Vào những năm 1970, công ty Ontario Hydro đã đi tiên phong về kỹ thuật đáp ứng tần số bằng cách đưa một tín hiệu dạng sin và đo trực tiếp các đáp ứng tần số. Sau đó lần lượt được các công ty khác nghiên cứu và ứng dụng.
Vào những năm 1990, các sản phẩm thương mại đầu tiên ứng dụng thực tế đã được giới thiệu. Hiện tại có một số lượng lớn các công ty dịch vụ thí nghiệm trên thế giới đã và đang sử dụng phương pháp phân tích tần số và phương pháp xung để đánh giá tình trạng và quản lý một số lượng lớn các MBA lực đang vận hành trên lưới điện của mình.1 minh họa nguyên lý của FRA.1: Minh họa nguyên lý của FRA Cấp điện áp hình sin trị hiệu dụng thấp (ví dụ 10 V), nhưng biến thiên trong một vùng tần số rộng (ví dụ từ 10 Hz đến 10 MHz), vào 1 đầu cực MBA (ký hiệu Vr = reference voltage); Đo điện áp ở một đầu cực khác (ký hiệu Vm = measured voltage); Tính tỷ số giữa chúng Biên độ = 20*log (Vm/Vr) (dB) Góc pha = góc pha {Vm} – góc pha {Vr} (độ). Nguyên lý đo đáp ứng tần số như trên được gọi là SFRA (Sweep = quét tần số điện áp hình sin), đang là nguyên tắc được áp dụng rộng rãi trong FRA hiện nay. Một nguyên lý khác là dựa trên điện áp xung (IFRA với I viết tắt cho Impulse) nhưng kém ứng dụng thực tế hơn do chỉ hiệu quả ở tần số dưới 200 kHz.
Chương 2: Kỹ thuật phân tích đáp ứng tần số và ứng dụng 6 Một sơ đồ ví dụ cho mạch đo phân tích đáp ứng tần số được cho bởi IEC 60076-18 [2] thể hiện như sau (hình 2.2: Sơ đồ minh họa mạch đo đáp ứng tần số Có 4 cấu hình đáp ứng tần số cơ bản được thống nhất giữa các tiêu chuẩn đề cập ở trên: End-to-end open-circuit (EEOC): đo hở mạch End-to-end short-circuit (EESC): đo ngắn mạch Capacitive inter-winding (CAP): đo hiệu ứng dung Inductive inter-winding (IND): đo hiệu ứng cảm Hình 2.3 minh họa các kiểu đo như trên áp dụng cho MBA có tổ đấu dây YN-d. Chương 2: Kỹ thuật phân tích đáp ứng tần số và ứng dụng 7 Hình 2.3: Cấu hình đo đáp ứng tần số Mỗi cấu hình đo đều cho các dạng đáp ứng tần số khác nhau về độ lớn, dạng và góc pha. Trong số 4 cấu hình đo này, người ta thường chỉ sử dụng cấu hình đo hở mạch (biên độ) để chẩn đoán vì các thông số điện trong sơ đồ tương đương MBA (điện cảm, điện dung, điện trở cuộn dây và lõi thép trong tổng thể MBA) đều có ảnh hưởng đến dạng đáp ứng tần số ở những vùng tần số nhất định trong khi các sơ đồ đo khác chỉ có ảnh hưởng rõ rệt của từng thông số riêng biệt.3 Nguyên lý phân tích đáp ứng tần số của MBA Từ các phép đo đáp ứng tần số sẽ thu được kết quả là đường đặc tính của các đáp ứng thu được, sau khi phân tích có thể nhận thấy được những vùng có những thay đổi phụ thuộc vào những dải tần số khác nhau, minh họa đối với 1 MBA tự ngẫu ở hình 2. Ở dải tần số thấp, thông thường thành phần điện dung của MBA có thể được xem là không đáng kể và đáp ứng là thuần cảm (từ 10 Hz đến 2 kHz ở hình 2.
Ở các tần số này điện cảm của mạch từ chiếm ưu thế: tổng trở lõi sắt (core impendance), điện cảm rò (leakage inductance). Có một sự sai lệch đáng kể ở các đáp ứng giữa hai pha bên ngoài (A, C) và pha giữa (B) tại dải tần số này. Điều này là do các đường đi của từ thông trong lõi thép. Pha giữa có hai đường đi của từ thông có từ trở bằng nhau và pha ngoài có hai đường đi của từ thông có từ trở khác nhau.
Kết quả là các pha ngoài có hai điểm cộng hưởng so với pha giữa vốn chỉ có một điểm cộng hưởng. Điều này cũng giải thích về sự khác biệt về biên độ (dB) lúc khởi đầu (xem hình 2. Ở dải tần số cao hơn (từ 2 kHz trở đi) đáp ứng trông phức tạp vì có rất nhiều điểm cộng hưởng. Ở dải tần số này điện Chương 2: Kỹ thuật phân tích đáp ứng tần số và ứng dụng 8 dung của cuộn dây chiếm ưu thế do tần số (f) tăng làm cho cảm kháng (XL = 2πfL) tăng và dung kháng (XC = 1/(2πfC)) giảm dẫn đến ảnh hưởng đến dòng điện phân bố trong mạch.
Do đó, các đáp ứng của cuộn dây là ít phụ thuộc vào mạch từ, khiến cho kết quả đo khá nhạy cảm với sự biến dạng của cuộn dây. Ở dải tần số cao điện cảm có thể được xem là không đáng kể và có thể bỏ qua, đáp ứng thực tế có tính dung.4: Kết quả đáp ứng tần số ở các dải tần số khác nhau cho 1 MBA tự ngẫu Như vậy, đối với MBA khảo sát1 có thể thấy đáp ứng tần số (ĐƯTS) được chia ra 4 vùng như sau: Vùng 1 (Core influence), ảnh hưởng của lõi từ, với dải tần số f < 2 kHz. Trong đồ thị đáp ứng này, đáp ứng pha B khác biệt rõ so với hai đáp ứng còn lại, nguyên nhân là do ảnh hưởng của hai pha kế bên trong bộ máy biến áp ba pha Vùng 2 (Interaction between windings), vùng tương tác giữa các cuộn dây: giữa tần số từ 2 đến 20 kHz, đáp ứng bị ảnh hưởng bởi sự tương tác giữa các cuộn dây, như là cách kết nối (Delta, Wye, .), dây trung tính… Vùng 3 (Winding structure influence), vùng ảnh hưởng của cấu trúc bên trong cuộn dây: Từ 20 kHz đến 1 MHz, cấu trúc bên trong cuộn dây sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến đáp ứng tần số. Trong ví dụ này, đồ thị FRA ở vùng 3, quá trình cộng hưởng ít hơn và phần lớn giá trị điện dung tăng lên do tần số (f) tăng làm cho cảm 1 Đáp ứng tần số đối với từng MBA khác nhau là khác nhau vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tổ đấu dây, công suất, điện áp, kiểu dây quấn.
Chương 2: Kỹ thuật phân tích đáp ứng tần số và ứng dụng 9 kháng (XL = 2πfL) tăng và dung kháng (XC = 1/(2πfC)) dẫn đến ảnh hưởng đến dòng điện phân bố trong mạch ở cuộn HV Vùng 4 (Earthing lead influence), ảnh hưởng của việc nối đất với vùng tần số từ 1 MHz trở lên là ảnh hưởng của việc kết nối thiết bị đo và cấu hình đo Các tiêu chuẩn quốc tế hiện nay đều hướng đến cách chẩn đoán dùng phép so sánh giữa các ĐƯTS trước và sau khi nghi ngờ có sự cố.