Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới và ở Việt Nam: 1.1 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới : Tăng huyết áp (THA) không chỉ có ảnh hưởng lớn đến gánh nặng bệnh lý tim mạch mà cũng có ảnh hưởng nhiều đến gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), huyết áp là một trong sáu yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng tới phân bố gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Tăng huyết áp là một trong những bệnh phổ biến ở người lớn tuổi và đang trở thành vấn đề sức khoẻ hàng đầu ở các nước phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển. Tỷ lệ mắc tăng huyết áp (THA) cao thấp tùy quốc gia nhưng xu hướng tăng dần và đây là vấn đề nổi trội nhất đối với người cao tuổi một khi tuổi thọ càng cao [34].
Năm 1986, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ở các nước p hương Tây có khoảng 40% người da trắng và hơn 50% người da đen trên 65 tuổi bị tăng huyết áp [46] THA trong cộng đồng rất cao ở các nước đang p hát triển: Tại Hoa Kỳ (năm 1988-1991) tỉ lệ THA ở người lớn là 20,4%, tại Pháp (năm 1994) là 40,0%, tại Canada (1995) là 22% và tại Ấn Độ (1997) là 23,7%[20] Tại các quốc gia Châu Á, tỷ lệ tăng HA thay đổi theo từng nước: Indonesia 6-15%, Malaysia 10- 11%, Đài Loan 28%[1], Philipines năm 2000 là 23%, Ấn Độ (2000) là 31%, Trung Quốc (2002) là 27,2%, Malaysia năm (2004) là 32,9% Tỷ lệ tăng huyết áp ở Mỹ năm 2004 là 29%, ở Anh năm 2006 là 40%, ở Canada năm 2007 là 25% và ở Ai Cập năm 2006 là 26,3% còn các nước khác theo Wolf-Maier và Cộng sự công bố năm 2003 ở Ý là 37,7%, 4 ở Thụy Điển là 38,4%, ở Phần Lan là 48,7%, ở Tây Ban Nha là 46,8% còn ở Đức là 55,3%. Năm 1999, số lượt người đi khám do tăng huyết áp chiếm 4,2% tổng số lượt người khám tại Mỹ [38]. Tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp ở các khu vực giao động khoảng 8% đến 18% như Indonesia từ 6%-15%, Malaysia từ 10%-11% và Hoa Kỳ 24% [17]. Ở Mỹ, số dân bị tăng huyết áp cao nhất thế giới, tỷ lệ tăng HA là 25%-35%, ít nhất có 65 triệu người, tức 1/3 của tổng số dân trên 18 tuổi đã bị tăng huyết áp .Cách đây 10 năm, chỉ có 50 triệu và tuần báo TIMES còn đưa ra số liệu đáng lo ngại: trong suốt cuộc đời thế nào cũng có 90% dân Mỹ có vấn đề huyết áp cao và ít nhất nữa dân số Mỹ sẽ chết vì hai căn bệnh tim và đột quỵ cao [33].
Tình hình tăng huyết áp tại Việt Nam: Ở các nước công nghiệp phát triển tỷ lệ mắc bệnh từ 15 -20% ở người lớn có THA. Ở Việt nam, tỷ lệ mắc bệnh vào khoảng 6-12% [40]và số người mắc bệnh vào khoảng trên dưới 5-6 triệu người mắc tăng huyết áp. Bất cứ vùng nào ở nước ta, số lượng bệnh nhân THA được phát hiện ngày càng tăng lên. Các cuộc điều tra dịch tễ học tại Việt Nam cho thấy xu hướng tăng huyết áp tăng cao: Tỉ lệ hiện mắc năm 1960 là 2%, năm 1992 trên toàn quốc là 11,7% và năm 2002 ở miền Bắc là 16,3%, còn ở Hà Nội là 23,2% và năm 2004 thành phố Hồ Chí Minh là 20,5%.
Điểm đặc biệt là chỉ mới 19,1% [34] người bị tăng huyết áp được khống chế 80,9% (khoảng 9 triệu người bệnh Việt Nam) còn lơ lửng các mối hiểm nguy do tăng huyết áp gây ra (Bảng 3. 5 Tỷ lệ tăng huyết áp khác nhiều theo lứa tuổi. Ở tuổi 25 đến 34 tỉ lệ này là 6,68%, nhưng nếu xem lứa tuổi già hơn từ 65 đến 74 tuổi tỉ lệ tăng huyết áp là 47%, nghĩa là cứ 2 người có 1 người tăng huyết áp [34]. Tăng huyết áp là một trong những vấn đề nổi trội nhất: Cuộc điều tra trên phạm vi toàn quốc, cụ thể ở 27 điểm rải rác khắp cả nước ở 20 tỉnh thành, qua 51.654 người, con số tăng HA chiếm 11,8% dân số trên 15 tuổi.
Trong đó, tỷ lệ nam bị nhiều hơn nữ, nhưng vì hiện tại dân số nữ đông hơn nam nên tổng số bệnh tăng HA ở nữ đông hơn nam. Tỷ lệ tăng HA cao nhất ở Thanh Hoá và Quảng Trị, ít nhất là vùng đồng bằng Sông Hồng. Tuổi càng cao thì HA thường cao nhất là huyết áp tâm thu. Ở tuổi 35 thì cứ 20 người có 1 người tăng HA (5%), ở tuổi từ 65 trở lên cứ 3 người có 1 người tăng HA ( 33,3%) [10].
Năm 2001, theo điều tra của Trần văn Huy và cộng sự ở Khánh Hoà, tỷ lệ tăng huyết áp tâm thu đơn độc ở người cao tuổi là 36,04% [19] và tỷ lệ này là 24,8% trong điều tra của Phạm Thắng (2003) [2] Ở Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1992-1993 thì tỷ lệ tăng HA là 15,74%. Trong vòng hơn 10 năm thì tỷ lệ tăng HA đã thật sự tăng, theo cuộc khảo sát của Hồ Thanh Tùng năm 2005 thì tỷ lệ tăng HA là 20,5% [43] Tại thành phố Cần thơ năm 2005, tỷ lệ tăng HA ở độ tuổi từ 25 -64 là 30.3% [28], đây là tỷ lệ cao và cần đáng lưu tâm tại một thành phố đang có quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ngày càng phát triển, sẽ kéo theo hệ quả làm thay đổi mô hình bệnh lý tim mạch và chuyển hóa trong thời gian tới. Tình hình tăng huyết áp ở tuổi mãn kinh: 1.1 Khái niệm mãn kinh: Định nghĩa mãn kinh: Mãn kinh là tình trạng thôi hành kinh vĩnh viễn, một vô kinh thứ phát do suy giảm tự nhiên hoạt động của buồng trứng và không hồi phục [18] Tuổi mãn kinh: Quanh tuổi từ 45-55, mãn kinh trước 40 tuổi được gọi là mãn kinh sớm, mãn kinh sau 55 tuổi được gọi là mãn kinh muộn - Hiện tượng mãn kinh: Là tình trạng vô kinh ở người phụ nữ trong ít nhất 12 tháng - Thời kỳ mãn kinh: khoảng thời gian tính từ hiện tượng mãn kinh cho đến hết cuộc đời 1.2 Tăng huyết áp ở tuổi mãn kinh: Theo JNC VI, mãn kinh là một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch, sự thiếu hụt estrogen làm cho phụ nữ ở lứa tuổi này dễ bị tăng huyết áp. Theo Lương chí Thành, phụ nữ ở độ tuổi 50 -54 có chỉ số huyết áp cao hơn nam giới cùng lứa tuổi, đồng thời có độ chênh lệch khá lớn.
Tác giả cho rằng có thể đây là lứa tuổi liên quan đến sự mãn kinh trong đó có phản ứng của hệ vận mạch dẩn đến tăng huyết áp. Phụ nữ mãn kinh do có sự phối hợp giữa thiếu hụt estrogen và tuổi thọ làm cho huyết áp tâm thu và tâm trương đều tăng[8],[39].Tình hình tăng huyết áp tại tỉnh Vĩnh Long Vĩnh Long tổ chức nhiều hình thức truyền thông cả diện rộng và chiều sâu với mục tiêu phấn đấu có từ 50% người dân trở lên hiểu đúng về bệnh THA và các biện pháp phòng, chống bệnh. Đồng thời, tăng cường 7 năng lực của nhân viên y tế trong công tác dự phòng, phát hiện sớm và điều trị bệnh THA theo phác đồ của Bộ Y tế. Các thống kê hàng năm cho thấy xu hướng tăng huyết áp ngày một gia tăng về số lượng và có khuynh hướng trẻ hoá, đặc biệt là đối với bệnh nhân THA điều trị tại các cơ sở y tế công lập và tư nhân.
Tuy nhiên theo thống kê của sở y tế tại các bệnh viện Huyện năm 2011 ch o thấy THA mắc cao chiếm tỉ lệ 35% trong các bệnh điều trị tại các bệnh viện của tỉnh vĩnh long[3].5 Tình hình tăng huyết áp tại xã Hiếu Thành - Huyện Vũng Liêm -Tỉnh Vĩnh Long : 1. Sơ lược đặc điểm xã Hiếu Thành + Đặc điểm về địa lý: Xã Hiếu Thành là một xã vùng sâu của huyện Vũng Liêm, thuộc khu vực đồng bằng sông cửu Long. Diện tích chung: 1974 ha, diện tích nông nghiệp: 1733,87 ha nằm cách trung Tâm y tế Huyện 30 km nằm dọc theo tỉnh lộ 905, phương tiện đi giao thông đường thuỷ, đường bộ thông suốt 02 mùa mưa, nắng. + Đặc điểm về dân cư Dân số: 8.553 người, nữ: 4.056 người, nam: 4.497 người, số hộ: 1.996, số trẻ dưới 01 tuổi: 134 trẻ, số trẻ dưới 05 tuổi: 655 trẻ, phụ nữ tuổi mãn kinh: 610 người chiếm 7,1 % dân số, có 10 ấp, dân tộc kinh chiếm đa số, sống rải rác không tập trung vùng nông t hôn và dọc theo các tuyến kinh ruộng đồng.
8 + Đặc điểm về kinh tế văn hoá, xã hội : Kinh tế chủ yếu là nghề nông chiếm 95% còn lại 05% sống bằng nghề buôn bán nhỏ lẻ, làm thuê, làm mướn vv…Việc tiếp cận với dịch vụ y tế mức độ cao gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, nên việc tuyên truyền vận động công tác vệ sinh phòng bệnh, bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn 1.2 Tình hình tăng huyết áp tại xã Hiếu Thành Theo thống kê tại trạm y tế xã Hiếu Thành năm 2011 cho thấy tỉ lệ mắc bệnh cao huyết áp đứng hàng thứ 5 trong 10 bệnh có tỉ lệ mắc cao nhất và tỉ lệ tử vong do bệnh THA cũng khá cao chiếm 50 %[37] trong tổng số tử vong của 10 bệnh cao nhất. Đây là vấn đề sức khỏe mà Trạm y tế xã cần quan tâm trong việc quản lý sức khoẻ chung. Để phụ nữ tuổi mãn kinh được chăm sóc tốt, sống khỏe, để giảm tỉ lệ mắc, giảm tỉ lệ chết do tăng huyết áp. Đầy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khỏe về phòng ngừa bệnh tăng huyết áp và phòng ngừa được các biến chứng của nó, đó chính là mục tiêu của nghiên cứu này.2 Sơ lựợc về bệnh tăng huyết áp 1.
Định nghĩa và phân loại cao huyết áp 1. Định nghĩa tăng huyết áp: Theo tổ chức Y tế thế giới và Hiệp hội tăng huyết áp quốc tế: - Huyết áp bình thuờng nếu huyết áp động mạch tối đa (HAÐMTÐ) dưới 140mmHg và huyết áp tối động mạch tối thiểu (HAÐMTT) dưới 90mmHg. 9 - Tăng huyết áp (THA) nếu HAÐMTÐ ≥140mmHg và/ hoặc HAÐMTT≥90mmHg. Trong đó: - HAÐMTÐ còn gọi là huyết áp tâm thu (HATT), HAÐMTT còn gọi là huyết áp tâm trương (HATTr).
- Huyết áp động mạch (HAÐM) không cố định mà thay đổi trong ngày (thường ban đêm thấp hơn ban ngày), theo tuổi (thường nguời già cao hơn người trẻ), theo giới (thường nữ thấp hơn nam). - Con số huyết áp không đánh giá được hoàn toàn mức độ nặng nhẹ của bệnh (hai nguời có cùng một con số huyết áp, có thể có hiện tượng bệnh khác nhau).