Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, là giao điểm của nhiều luồng di cư thực vật và sở hữu nguồn tài nguyên thực vật phong phú với hơn 4.000 loài có công dụng làm thuốc, trong đó khoảng 90% phân bố tự nhiên trong các hệ sinh thái rừng. Tuy nhiên, sự gia tăng dân số cùng áp lực từ các tập quán canh tác nương rẫy và khai thác lâm sản quá mức đang khiến diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp, đẩy nhiều loài dược liệu quý vào nguy cơ suy giảm và tuyệt chủng cục bộ. Vùng đồi núi Việt Nam chiếm tới 3/4 diện tích tự nhiên, là địa bàn cư trú của 54 dân tộc, trong đó các dân tộc thiểu số với khoảng 24 triệu người đã tích lũy được hệ thống tri thức bản địa phong phú về việc khai thác và chế biến cây cỏ làm thuốc trị bệnh.

Người Mường tại xã Địch Giáo, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình sở hữu kho tàng kinh nghiệm dân gian lâu đời trong việc sử dụng thực vật rừng làm thuốc nam. Do sức ép mưu sinh và nhu cầu thu mua dược liệu của thương lái, nhiều loài cây thuốc có giá trị cao tại địa phương như Xạ đen, Huyết đằng, Sa nhân, Củ mài, Bình vôi đang bị khai thác ồ ạt, dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn gen trong tự nhiên. Mặt khác, các tri thức bản địa quý giá này chủ yếu được lưu truyền bằng hình thức truyền khẩu trong phạm vi dòng họ, gia đình, chưa được ghi chép và hệ thống hóa thành tài liệu khoa học chính thức, đứng trước nguy cơ mai một khi thế hệ trẻ không còn mặn mà nối nghiệp.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Nghiên cứu thực trạng và kinh nghiệm sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng dân tộc Mường, làm cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc có giá trị tại xã Địch Giáo, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Phản ánh được tính đa dạng về thành phần loài, dạng sống, sinh cảnh phân bố, bộ phận sử dụng và công dụng của các loài cây thuốc được cộng đồng người Mường tại địa phương sử dụng.
    • Ghi nhận và phân tích kinh nghiệm bản địa của người dân trong việc gây trồng, thu hái, sơ chế, bảo quản và buôn bán cây thuốc.
    • Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các loài thực vật làm thuốc đã và đang được cộng đồng người Mường tại xã Địch Giáo sử dụng để phòng và điều trị bệnh.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Địch Giáo, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện từ tháng 10 năm 2011 đến tháng 6 năm 2012 (các số liệu điều tra thị trường và giá thu mua được thu thập từ tháng 12/2011 đến tháng 4/2012).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiếp cận trên cơ sở lý thuyết của Thực vật học dân tộc (Ethnobotany) kết hợp với các nguyên lý điều tra tài nguyên thực vật rừng truyền thống. Các tài liệu chuyên khảo được kế thừa và đối chiếu gồm: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi), Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi), Tên cây rừng Việt Nam (2000), Danh lục các loài thực vật Việt Nam cùng Sách Đỏ Việt Nam (2007).

Phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp điều tra xã hội học nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) được triển khai cụ thể:

  • Phương pháp kế thừa số liệu: Thu thập số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng tài nguyên rừng từ UBND xã Địch Giáo và các báo cáo ngành lâm nghiệp địa phương.
  • Phương pháp điều tra sơ thám: Khảo sát tổng thể địa hình, phân bố thực vật, tiếp cận trạm y tế xã và các thầy lang bản địa để định hình kế hoạch ngoại nghiệp.
  • Phương pháp điều tra theo tuyến: Thiết lập 04 tuyến điều tra thực địa với bề rộng quan sát 10m mỗi bên:
    • Tuyến 01: Từ Trạm Y tế xã men theo đường nội đồng qua xóm Khạng, chạy dọc đường suối đến xóm Sung 1 (chiều dài khoảng 4,5 km).
    • Tuyến 02: Khảo sát tại khu vực đồng ruộng, vườn nhà các hộ dân gây trồng thuốc nam và vườn thuốc Trạm Y tế xã (chiều dài khoảng 4,0 km).
    • Tuyến 03: Men theo đường mòn lên đồi Ai qua các trạng thái rừng Ic, Ia, IIb, qua khu vực rừng khoanh nuôi xóm Sung 1, Sung 2, Sung 3, ngược lên đồi Cát vào Bãi Tang, Tầm Thăm giáp xóm Trọng xã Phong Phú (chiều dài khoảng 7,0 km).
    • Tuyến 04: Men theo chân núi xóm Đồi Lò qua xóm Khạng, vùng đất màu ven suối Khạng đến hồ thủy lợi xóm Kem qua các trạng thái rừng Ia, Ic, IIb (chiều dài khoảng 4,5 km).
  • Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn (OTC): Thiết lập 05 ô tiêu chuẩn đại diện cho các trạng thái rừng, gồm 04 ô diện tích 500 m² (20m x 25m) và 01 ô diện tích 1.000 m² (40m x 25m) để thống kê cấu trúc tầng tán và mật độ xuất hiện của cây thuốc.
  • Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn sâu bằng phiếu điều tra bán cấu trúc đối với 30 hộ gia đình (tổng số 135 nhân khẩu), ưu tiên các hộ có người hành nghề bốc thuốc nam, người cao tuổi và các cá nhân am hiểu việc nhận mặt cây thuốc; áp dụng kỹ thuật kiểm tra chéo thông tin.
  • Phương pháp thu và giám định tiêu bản: Thu thập mẫu tiêu bản ngoài thực địa gắn etiket, xử lý ép khô theo quy trình chuẩn của Đại học Lâm nghiệp và đối chiếu mẫu chuẩn trong các tài liệu chuyên ngành để xác định danh pháp khoa học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này khái quát tiến trình nghiên cứu tài nguyên thực vật làm thuốc trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Trên thế giới: Tài liệu chỉ ra con người sử dụng cây thuốc từ thời cổ đại (Pickring ghi nhận từ năm 4271 TCN ở Trung Cận Đông; Borisova B ghi nhận khoảng 5000 TCN). Y học cổ truyền Trung Hoa ghi nhận 356 vị thuốc trong Thần nông bản thảo, 52 đơn thuốc trong Thủ hậu cấp phương và 1.200 vị thuốc trong Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân; tài liệu Ai Cập cổ đại ghi chép 800 cây thuốc và trên 700 bài thuốc. Giai đoạn cận hiện đại chứng kiến nhiều biệt dược ra đời từ kinh nghiệm dân gian bản địa: Taxol chiết xuất từ Thông đỏ (Taxus sp.) chữa ung thư theo kinh nghiệm thổ dân Amazon; Kavatone từ cây Kava (Piper methysticum) trị trầm cảm theo thổ dân Papua New Guinea; cao chiết từ Cọ lùn (Serenoa repens) và Mận Phi (Prunus africanum) chữa phì đại tuyến tiền liệt.
  • Tại Việt Nam: Lịch sử y học cổ truyền ghi nhận những đóng góp lớn của Tuệ Tĩnh với tác phẩm Nam dược thần hiệu (396 vị thuốc, 3.873 bài thuốc) và Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư; Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác với bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh (28 tập, 66 quyển, thu thập 305 vị thuốc nam và 2.854 phương thuốc). Thời Pháp thuộc có công trình Catalogue des produits de L'Indochine của Crevost và Petelot (1952). Từ sau năm 1945, cố GS. Đỗ Tất Lợi xuất bản bộ sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (hơn 800 loài). Viện Dược liệu thống kê nước ta có khoảng 3.800 đến 4.000 loài thực vật làm thuốc. Các nghiên cứu hiện đại đã chiết xuất thành công Auronon Glycozit từ hạt cây Chay (Artocarpus tonkinensis) để ức chế miễn dịch, chất Maloapelta từ lá cây Bùm bụp (Mallotus apelta) để kìm hãm tế bào ung thư.
  • Nghiên cứu tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số: Giai đoạn 1994–2005, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã điều tra tại các cộng đồng người H'Mông, Dao, Mường, Thái, Tày ở vùng núi phía Bắc. Nhiều công trình tiêu biểu như nghiên cứu cây thuốc dân tộc Thái tại Con Cuông (Nguyễn Nghĩa Thìn), thuốc người Dao tại Ba Vì (Trần Văn Ơn), thuốc người Cao Lan tại Tuyên Quang (Ty Thị Hoàn), thuốc người Bru - Vân Kiều tại Quảng Trị (Trần Thị Dung). Các nghiên cứu thực nghiệm đã bào chế thành công thuốc đau dạ dày từ Chè dây (Ampelopsis cantoniensis), thuốc viêm dạ dày từ Nghệ vàng (Curcuma longa), và bài thuốc thử nghiệm lâm sàng phì đại tuyến tiền liệt TLC-02 từ bài thuốc dân gian người Tày tại Cao Bằng.

Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương trình bày chi tiết mục tiêu, phạm vi không gian, thời gian và hệ thống hóa 4 nội dung trọng tâm của đề tài:

  • Điều tra thành phần các loài cây thuốc được sử dụng tại xã Địch Giáo.
  • Xác định đặc điểm phân bố, dạng sống và công dụng của các loài cây thuốc.
  • Nghiên cứu kinh nghiệm bản địa của cộng đồng trong việc gây trồng, khai thác, chế biến và thương mại hóa cây thuốc.
  • Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc. Chương 2 cũng chuẩn hóa hệ thống 05 mẫu biểu điều tra (Mẫu biểu 01 đến 05) phục vụ thu thập dữ liệu theo tuyến, ô tiêu chuẩn, phỏng vấn hộ gia đình và tổng hợp tri thức bản địa.

Chương 3: Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế

Khóa luận mô tả đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Địch Giáo:

  • Vị trí địa lý: Xã nằm trên trục Quốc lộ 6 nối từ ngã ba Mãn Đức đi Mai Châu, gồm 13 xóm với tổng diện tích tự nhiên 1.209,68 ha. Phía Bắc giáp xã Phú Cường, phía Nam giáp xã Quy Mỹ, phía Đông giáp xã Phong Phú và Tuân Lộ, phía Tây giáp xã Quyết Chiến.
  • Đất đai: Đất lâm nghiệp chiếm ưu thế với 705,25 ha (58,30%), đất sản xuất nông nghiệp đạt 371,75 ha (30,73%), đất nuôi trồng thủy sản 16,82 ha (1,39%), đất chuyên dùng 34,46 ha (2,85%), đất thổ cư 31,09 ha (2,57%), đất chưa sử dụng 18,56 ha (1,53%), đất nghĩa trang và sông suối chuyên dùng chiếm 31,75 ha (2,63%). Thổ nhưỡng gồm đất feralit vàng đỏ núi trung bình có hàm lượng mùn 6–7% và đất đồi núi thấp (trong đó đất bạc màu chiếm 30–35%).
  • Khí hậu: Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 âm lịch, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 âm lịch năm sau. Nhiệt độ trung bình năm 23°C (cao nhất 29°C, thấp nhất 16°C), độ ẩm trung bình 85%.
  • Dân sinh - kinh tế: Toàn xã có 843 hộ với 3.699 nhân khẩu, dân tộc Mường chiếm đại đa số. Lao động trong độ tuổi là 1.789 người (chiếm 48,36%). Thu nhập bình quân đầu người năm 2011 đạt 10,68 triệu đồng/người/năm. Đời sống người dân dựa chủ yếu vào canh tác nông nghiệp (diện tích lúa nước 363 ha, ngô 118,5 ha, sắn 20 ha) và phụ thuộc đáng kể vào việc khai thác lâm sản phụ từ rừng.

Chương 4: Kết quả và phân tích kết quả

Chương này tập hợp toàn bộ các phát hiện định lượng và định tính thu được từ quá trình khảo sát thực địa:

1. Đa dạng thành phần loài thực vật làm thuốc

Qua khảo sát 04 tuyến, 05 ô tiêu chuẩn và phỏng vấn 30 hộ dân, đề tài đã lập danh lục gồm 134 loài cây thuốc thuộc 125 chi và 71 họ, phân bố trong 4 ngành thực vật bậc cao có mạch:

Ngành thực vật Số họ Tỷ lệ (%) Số chi Tỷ lệ (%) Số loài Tỷ lệ (%)
Ngọc lan (Magnoliophyta) 66 92,96 120 96,00 129 96,27
Dương xỉ (Polypodiophyta) 3 4,22 3 2,40 3 2,24
Thông đất (Lycopodiophyta) 1 1,41 1 0,80 1 0,75
Thông (Pinophyta) 1 1,41 1 0,80 1 0,75
Tổng cộng 71 100,00 125 100,00 134 100,00

Trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), Lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) chiếm ưu thế tuyệt đối với 51 họ (77,28%), 98 chi (81,67%) và 100 loài (77,52%). Lớp Một lá mầm (Liliopsida) chỉ chiếm 15 họ (22,72%), 22 chi (18,33%) và 29 loài (22,48%).

Danh lục 10 họ thực vật có số loài làm thuốc nhiều nhất tại khu vực gồm 52 loài (chiếm 38,9% tổng số loài) và 48 chi (chiếm 38,4% tổng số chi): họ Cúc (Asteraceae) đứng đầu với 11 loài (8,2%); các họ còn lại gồm họ Hoa môi (Lamiaceae), họ Ráy (Araceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ Lúa (Poaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Vang (Caesalpiniaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) có từ 2 đến 5 loài mỗi họ.

2. Phân bố theo sinh cảnh và dạng sống

  • Phân bố theo sinh cảnh: Cây thuốc phân bố tại 6 loại sinh cảnh khác nhau, tập trung cao nhất ở sinh cảnh Vườn với 54 loài (40,29%), tiếp đến là Rừng tự nhiên với 40 loài (29,85%), Ruộng có 17 loài (12,68%), Đồi có 10 loài (7,46%), Ven đường có 9 loài (6,71%) và Nương rẫy có 4 loài (2,99%).
  • Phân bố theo dạng sống: Thân cỏ chiếm tỷ lệ cao nhất với 49 loài (36,56%), Thân gỗ lớn và nhỏ có 29 loài (21,64%), Thân bụi có 23 loài (17,16%), Thân leo có 10 loài (7,46%), Dây leo có 9 loài (6,71%), Thân thảo có 7 loài (5,22%), Thân củ rễ có 5 loài (3,73%) và Dạng cau dừa có 2 loài (1,49%).

3. Bộ phận sử dụng và nhóm bệnh điều trị

  • Bộ phận sử dụng: Tổng số lượt sử dụng các bộ phận trên 134 loài đạt 198 lượt (hệ số sử dụng trung bình đạt 1,47 lượt/loài). Trong đó, Lá là bộ phận được dùng phổ biến nhất với 79 lượt (39,90%), tiếp theo là Thân với 29 lượt (14,60%), Quả với 25 lượt (12,63%), Rễ với 19 lượt (9,59%), Củ với 14 lượt (7,07%), Vỏ cây với 12 lượt (6,06%), Hoa với 9 lượt (4,54%), Tất cả các bộ phận (toàn cây) có 7 lượt (3,53%) và Hạt có 4 lượt (2,02%).
  • Mức độ sử dụng bộ phận trên từng cây: Có 65 loài chỉ sử dụng 1 bộ phận (48,51%), 51 loài sử dụng 2 bộ phận (38,05%), 11 loài dùng 3 bộ phận (8,21%) và 7 loài khai thác toàn bộ cây (5,23%).
  • Đa dạng về công dụng: Các loài cây thuốc được người dân sử dụng điều trị 20 nhóm bệnh khác nhau (tổng số 147 lượt sử dụng). Nhóm bệnh thanh nhiệt giải nhiệt có số loài dùng nhiều nhất (22 loài), bệnh thận và đau lưng (12 loài), bệnh ghẻ và mụn nhọt (11 loài), bệnh phong thấp đau nhức xương (11 loài), bệnh tiêu chảy (10 loài), bệnh hen ho (8 loài), bệnh tiêu hóa dạ dày (8 loài), bệnh lỵ (7 loài)...

4. Kinh nghiệm bản địa và chuỗi thị trường tiêu thụ

  • Khảo sát 30 hộ dân (135 nhân khẩu) ghi nhận: 61 người biết nhận mặt cây thuốc (chiếm 45,18%), chỉ có 4 người hành nghề làm thuốc nam chuyên nghiệp (chiếm 2,96%). Người am hiểu chủ yếu là người già và phụ nữ trung niên; thanh niên hầu như không nắm bắt được tri thức này.
  • Quy trình sơ chế: Rất đơn giản, chủ yếu là rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô hoặc phơi sương, bảo quản trong túi nilon; rất ít khi nấu thành cao. Đề tài ghi chép kinh nghiệm thu hái và chế biến đặc thù cho 10 loài cây thuốc quý:
Tên loài Mùa khai thác Bộ phận và thời điểm khai thác Kinh nghiệm chế biến, bảo quản
Bách bộ Khi cây lụi tàn Đào lấy củ Đồ chín rồi đem phơi khô
Củ bình vôi Cuối đông Đào lấy củ Thái mỏng, phơi khô
Củ mài Mùa thu, đông Đào lấy củ Rửa sạch, phơi khô
Huyết đằng Mùa xuân Chặt lấy thân già Thái nhỏ rồi phơi khô
Lá khôi Quanh năm Hái lá già, để lại lá non Phơi trong bóng râm (phơi mát)
Gừng Mùa đông, xuân Đào lấy củ già Để nơi thoáng mát, tránh ánh sáng
Khổ sâm Quanh năm Hái lá bánh tẻ Phơi khô
Sa nhân Tháng 8 Thu hái quả khi đã chuyển màu vàng Phơi khô cả quả
Xạ đen Quanh năm Thu hái cả lá, thân, hạt Thân thái mỏng rồi phơi khô cùng lá, hạt
Huyết giác Mùa đông Bóc lấy phần gỗ thân hóa đỏ Chặt nhỏ rồi phơi khô
  • Hiện trạng gây trồng: Toàn xã chỉ có 8 hộ gia đình chủ động gây trồng cây thuốc tại vườn nhà (các loài như Xạ đen, Khổ sâm, Huyết dụ đỏ, Sa nhân, Sâm đại hành, Mía dò, Lá khôi). Điển hình có hộ bà Bùi Thị Bui đã nhân giống thành công cây Khôi nhung bằng phương pháp giâm hom cành và bứng cây con từ rừng về thuần dưỡng.
  • Thị trường và chênh lệch giá: Người dân khai thác tự do trong rừng tự nhiên rồi bán tươi hoặc phơi khô cho các điểm thu gom tại địa phương, hình thành chuỗi cung ứng chuyển tới đại lý thị trấn Mường Khến và đưa đi tiêu thụ tại các tỉnh (Hà Nội, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, TP. Hồ Chí Minh, Biên Hòa). Chênh lệch giá giữa giá thương lái thu mua tại xã và giá bán ra thị trường ghi nhận sự chênh lệch lớn:
Tên loài Tên địa phương Giá thương lái mua tại xã (VNĐ/kg) Giá bán ra thị trường (VNĐ/kg)
Bách bộ Pang búa 70.000 95.000
Thân Xạ đen Cùn Xạ cái 90.000 140.000
Hạt Xạ đen Hạt Xạ cái 95.000 150.000
Lá Xạ đen Lá Xạ cái 90.000 130.000
Huyết đằng Cùn máu người 10.000 20.000
Củ bình vôi Bình vôi 15.000 25.000
Sa nhân Cơng khụ (ghi nhận theo thời giá) 150.000
Củ mài Củ dạng (ghi nhận theo thời giá) 105.000
Quả Tai chua Không 6.000 10.000
  • Khóa luận cũng ghi chép cụ thể phương thuốc trị rắn cắn (lá Bỏng, Mướp đắng, Ngót rừng), trị đau nhức xương khớp (rễ Trinh nữ, Lá lốt, Mía dò), sơ gan cổ trướng (quả Dứa dại sao vàng hạ thổ 3 lần), sỏi thận và đái buốt (Mã đề, Cỏ xước, Hà thủ ô trắng, Râu ngô, Rau má, Ý dĩ sao vàng sắc uống), cùng các bài thuốc hạ huyết áp, trị ho, bỏng lửa và giải rượu.

Kết quả và đóng góp

Văn bản khóa luận đã đạt được những kết quả và đóng góp cụ thể:

  • Thống kê định lượng danh lục gồm 134 loài cây thuốc thuộc 125 chi, 71 họ của 4 ngành thực vật có mạch, phản ánh cấu trúc phân loại học chi tiết và ghi nhận 10 họ thực vật chiếm tỷ trọng lớn nhất tại khu vực nghiên cứu.
  • Định lượng hóa mức độ sử dụng: Xác lập tỷ lệ phân bố theo 6 sinh cảnh (Vườn 40,29%, Rừng 29,85%...), 8 dạng sống (Thân cỏ chiếm 36,56%, Thân gỗ 21,64%...), 9 loại bộ phận dùng (Lá 39,90%, Thân 14,60%, Quả 12,63%...) và phân loại vào 20 nhóm bệnh điều trị.
  • Tư liệu hóa tri thức bản địa: Ghi nhận thực trạng hiểu biết cây thuốc trong 30 hộ dân (tỷ lệ biết mặt thuốc 45,18%, tỷ lệ hành nghề thuốc 2,96%), hệ thống hóa phương pháp sơ chế 10 loài thuốc quý và quy trình sử dụng các bài thuốc gia truyền của người Mường.
  • Khảo sát chuỗi cung ứng thương phẩm: Lập bảng so sánh giá bán giữa người thu hái và thương lái, vạch rõ sơ đồ đường đi của cây thuốc từ rừng Địch Giáo đến thị trường các đô thị lớn.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất từ tác giả:
    • Tuyên truyền, nâng cao nhận thức bảo tồn cho người dân địa phương; tổ chức truyền dạy tri thức bản địa cho thế hệ trẻ.
    • Áp dụng các biện pháp bảo tồn tại chỗ (In-situ) tại các diện tích rừng tự nhiên, kiểm soát chặt chẽ các hình thức khai thác tận diệt (chặt toàn bộ cây, đào tận gốc rễ).
    • Khuyến khích bảo tồn chuyển chỗ (Ex-situ) bằng cách nhân rộng mô hình vườn thuốc gia đình (như mô hình giâm hom Lá khôi của hộ bà Bùi Thị Bui) và xây dựng vườn thuốc nam chuẩn tại trạm y tế và các thôn bản.
    • Quản lý thị trường buôn bán dược liệu địa phương, kiểm soát đầu mối thu mua nhằm hạn chế tình trạng xuất bán dược liệu thô chưa qua chế biến.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ rõ các giới hạn tồn tại trong quá trình thực hiện:

  • Hạn chế: Thời gian thực tập ngoại nghiệp còn hạn chế (triển khai từ cuối năm 2011 đến giữa năm 2012), kinh phí eo hẹp; số lượng phiếu phỏng vấn dừng lại ở quy mô 30 hộ gia đình nên chưa bao quát toàn bộ 13 xóm trong xã; các bài thuốc gia truyền mới chỉ dừng ở mức độ ghi chép kinh nghiệm dân gian qua phỏng vấn mà chưa có điều kiện phân tích hàm lượng hoạt chất hóa học hay thử nghiệm dược lý lâm sàng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục mở rộng diện tích điều tra trên toàn bộ các trạng thái rừng và sinh cảnh đặc thù còn lại của huyện Tân Lạc.
    • Phối hợp với các viện, trung tâm dược liệu để tiến hành chiết tách hoạt chất, phân tích độc tính và kiểm định hiệu lực dược lý của các bài thuốc kinh nghiệm đặc thù (như bài thuốc trị rắn cắn, bài thuốc trị xơ gan cổ trướng từ Dứa dại sao vàng hạ thổ).
    • Xây dựng dự án phát triển mô hình trồng bán tự nhiên dưới tán rừng các loài dược liệu bản địa có giá trị kinh tế cao (Xạ đen, Lá khôi, Sa nhân, Củ bình vôi) theo tiêu chuẩn GACP.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang giá trị thực tiễn và tư liệu tham khảo đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên và giảng viên các chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học thực vật và Dược học dân tộc: Cung cấp nguồn số liệu thực chứng, phương pháp luận điều tra thực địa theo tuyến, phương pháp thiết lập ô tiêu chuẩn kết hợp bộ công cụ phỏng vấn PRA trong nghiên cứu thực vật làm thuốc.
  • Cán bộ quản lý lâm nghiệp và chính quyền địa phương xã Địch Giáo, huyện Tân Lạc: Cung cấp bức tranh thực trạng về tài nguyên cây thuốc và áp lực thương mại hóa dược liệu, làm căn cứ xây dựng kế hoạch quản lý bảo vệ rừng và định hướng sinh kế cho người dân bản địa.
  • Người làm đề tài nghiên cứu về tri thức bản địa dân tộc Mường: Phần tài liệu ghi chép chi tiết về kỹ thuật thu hái theo mùa, phương pháp sơ chế 10 loài thuốc quý và danh mục các bài thuốc dân gian là tư liệu có thể kế thừa và so sánh liên vùng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận bao nhiêu loài cây thuốc và ngành thực vật nào chiếm ưu thế lớn nhất?
Nghiên cứu đã ghi nhận 134 loài cây thuốc thuộc 125 chi và 71 họ nằm trong 4 ngành thực vật. Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 66 họ (92,96%), 120 chi (96,00%) và 129 loài (96,27%), trong đó Lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida) chiếm tới 77,52% tổng số loài của ngành.

2. Tại sao sinh cảnh Vườn lại có số lượng loài cây thuốc ghi nhận cao hơn sinh cảnh Rừng tự nhiên?
Số loài cây thuốc xuất hiện ở sinh cảnh Vườn đạt 54 loài (40,29%), cao hơn sinh cảnh Rừng với 40 loài (29,85%). Nguyên nhân do cây thuốc tại vườn nhà được người dân chủ động bảo vệ, che chở và giữ lại để sử dụng khi cần; trong khi đó, cây thuốc tại sinh cảnh rừng tự nhiên đang chịu tác động khai thác mạnh mẽ từ con người và hiện tượng đốt nương làm rẫy khiến nhiều loài bị suy giảm.

3. Tỷ lệ nhận thức và mức độ am hiểu về cây thuốc nam trong cộng đồng người Mường tại xã Địch Giáo như thế nào?
Kết quả phỏng vấn 30 hộ dân (135 nhân khẩu) cho thấy có 61 người biết nhận mặt cây thuốc (chiếm 45,18%), nhưng chỉ có 4 người hành nghề bốc thuốc nam chuyên nghiệp (chiếm 2,96%). Những người am hiểu chủ yếu là người già và phụ nữ trung niên, trong khi thế hệ thanh niên gần như không biết nhận mặt cây thuốc.

4. Mức độ chênh lệch giá giữa người dân thu hái tại rừng và thương lái bán ra thị trường thể hiện như thế nào?
Có sự chênh lệch giá rất lớn giữa giá người dân bán cho đầu mối thu mua tại xã và giá thương lái bán ra thị trường. Ví dụ: Bách bộ được mua 70.000 đ/kg nhưng bán ra 95.000 đ/kg (chênh 25.000 đ/kg); Thân Xạ đen mua 90.000 đ/kg nhưng bán ra 140.000 đ/kg (chênh 50.000 đ/kg); Hạt Xạ đen mua 95.000 đ/kg bán ra 150.000 đ/kg (chênh 55.000 đ/kg); Huyết đằng mua 10.000 đ/kg bán ra 20.000 đ/kg (chênh gấp đôi).

5. Mô hình nhân giống và gây trồng bảo tồn cây thuốc quý nào đã bước đầu thành công tại địa phương?
Khóa luận ghi nhận mô hình của hộ gia đình bà Bùi Thị Bui tại xóm Sung 2 đã bước đầu thành công trong công tác bảo tồn chuyển chỗ loài cây Lá khôi (Khôi nhung) bằng kỹ thuật giâm hom thân và bứng cây con từ rừng về trồng thuần dưỡng trong vườn nhà, bên cạnh việc gây trồng các loài Xạ đen, Khổ sâm, Sa nhân, Sâm đại hành.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Bùi Văn Tuyên đã phản ánh toàn diện tính đa dạng của 134 loài thực vật làm thuốc và hệ thống hóa được kho tàng tri thức bản địa đặc sắc của cộng đồng người Mường tại xã Địch Giáo, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Công trình đã chỉ rõ thực trạng suy thoái nghiêm trọng của nguồn dược liệu tự nhiên dưới áp lực khai thác thương mại tự do và sự chênh lệch chuỗi giá trị thị trường, đồng thời cảnh báo nguy cơ mai một tri thức truyền thống giữa các thế hệ. Các số liệu thực địa và giải pháp bảo tồn kết hợp giữa tại chỗ (In-situ) và chuyển chỗ (Ex-situ) do tác giả đề xuất là cơ sở khoa học thiết thực phục vụ công tác quy hoạch tài nguyên lâm sản ngoài gỗ và phát triển kinh tế cộng đồng vùng cao.