Chương 1: Tổng quan. Chương 2: Các kỹ thuật thực nghiệm. Chương 3: Kết quả và thảo luận Kết luận Tài liệu tham khảo Các công trình công bố z CHƢƠNG I TỔNG QUAN 1. Tổng quan về vật liệu ferit spinel 1.
Cấu trúc tinh thể Ferit spinel là thuật ngữ dùng để chỉ loại vật liệu có hai phân mạng mà các tương tác giữa chúng là phản sắt từ hoặc ferit từ [8]. Các ferit spinel có công thức chung là MeFe2O4. Ở đây Me là các kim loại hóa trị 2+ như: Fe2+, Mn2+, Zn2+, Co2+, Ni2+, Mg2+.1 mô tả cấu trúc tinh thể của ferit spinel. Cấu trúc tinh thể của vật liệu ferit spinel [8].
Với bán kính ion của ôxy là 0,132 nm Bảng 1. Thông số bán kính của một số lớn hơn rất nhiều so với bán kính ion ion kim loại [27]. của các kim loại trong cấu trúc (0,06 ÷ 0,091 nm) do đó ion ôxy trong mạng Ion Bán kính (nm) hầu như nằm sát nhau và tạo thành một Fe2+ 0,083 mạng lập phương tâm mặt xếp chặt [7]. Một ô cơ sở của ferit spinel chứa 8 Fe3+ 0,067 nguyên tử MeFe2O4, các ion kim loại Co2+ 0,072 hóa trị 2+ và 3+ có thể có mặt ở các vị trí tứ diện và bát diện trong cấu trúc ferit Mn2+ 0,091 spinel.
Zn2+ 0,082 Các ion kim loại trong mạng spinel chia thành hai nhóm: Nhóm tứ diện (A): Mỗi ion kim loại được bao bởi 4 ion oxy, ở nhóm này có 64 vị trí trống và có 8 ion kim loại chiếm chỗ, hay vị trí trống nhiều hơn. z Nhóm bát diện (B): Mỗi ion kim loại được bao bởi 6 ion oxy, ở nhóm này có 32 vị trí trống và có 16 ion kim loại chiếm chỗ. Phân bố ion trong các vị trí của cấu trúc spinel [8]. Kiểu cấu trúc Số vị trí Số được sử Vị trí Spinel Spinel có sẵn dụng thuận đảo (A) 64 8 8 Me2+ 3+ 8 Me2+, (B) 32 16 16 Fe 8 Fe3+ Tùy thuộc vào sự phân bố cation, có ba dạng cấu trúc spinel: - Spinel thuận: tất cả các ion kim loại Me2+ nằm ở vị trí tứ diện (A), các ion Fe3+ nằm ở vị trí bát diện (B).
Thông thường, các ferit này được viết dưới dạng: Me2+[Fe23+]O42-. Ví dụ ZnFe2O4 và CdFe2O4. - Spinel đảo: tất cả các ion M2+ nằm ở vị trí bát diện (B), các ion Fe3+ phân chia đều ở hai vị trí A và B. Các ferit này được viết dưới dạng: Fe3+[ Me2+ Fe3+]O42-.
Ví dụ NiFe2O4 và CoFe2O4. - Spinel hỗn hợp: các cation Me2+ và Fe3+ có thể đồng thời phân bố ở hai vị trí A và B. Kiều cấu trúc này được mô tả qua biểu thức sau: My2+Fe1-y3+ [M1-y2+Fe1+y3+]O42- Với 0 ≤ y ≤ 1, y là số lượng ion Fe3+ chiếm vị trí tứ diện (A), được đặc trưng bởi độ đảo của ferit [8]. Sự phân bố ion trong ferit spinel chủ yếu phụ thuộc vào độ lớn bán kính các ion [27].
Do lỗ trống ở vị trí tứ diện bé hơn lỗ trống bát diện, cho nên các ion có bán kính nhỏ, có xu hướng chiếm ở vị trí A. Các ion hóa trị 3+ thường có bán kính nhỏ hơn ion hóa trị 2+. Do đó, ferit spinel có xu hướng tạo nên spinel đảo. Nguồn gốc từ tính Theo lý thuyết trường phân tử, nguồn gốc từ tính trong vật liệu ferit spinel là do tương tác trao đổi gián tiếp giữa các ion kim loại (ion từ tính) trong hai phân mạng A và B thông qua các ion ôxy.
Năng lượng tương tác trao đổi này phụ thuộc vào khoảng cách giữa các ion và góc giữa chúng với ion ôxy [4].3 cho biết các dạng liên kết có thể đóng góp lớn nhất vào năng lượng tương tác trao đổi, và khoảng cách giữa các ion Me – O, Me – Me trong cấu trúc tinh thể spinel. Một vài dạng cấu hình phân bố ion trong mạng spinel [18], phân mạng A và B là các ion kim loại ở vị trí tứ diện và bát diện, vòng tròn lớn là ion ôxy. Khoảng cách giữa các ion được ký hiệu b, c, d, e, g, r, p,q, s, a là hằng số mạng, u là tham số ôxy [18]. Khoảng cách Me – O Khoảng cách Me – Me p a( 5 u ) ra 2 8 4 q a(u 1 ) 3 ca 11 4 8 r a(u 1 ) 11 d a 3 3 8 4 s a (u 1 ) 3 e 3a 3 ; f a 6 3 8 8 4 Trong cấu hình AB, khoảng cách p, q là nhỏ, trong khi đó góc φ khá lớn (φ ≈ 0 125 ), do vậy năng lượng tương tác trao đổi trong trường hợp này là lớn nhất.
Tương tác trao đổi yếu nhất ở cấu hình AA, vì khoảng cách r tương đối lớn (r = 3,3 Å), với góc φ ≈ 800. Độ lớn của tương tác trao đổi cũng bị ảnh hưởng bởi sự sai lệch của tham số ôxy khỏi giá trị 3 8. Tham số ôxy là một đại lượng để xác định độ dịch chuyển của các ion ôxy khỏi vị trí của mạng tinh thể lý tưởng. Nếu u > 3 8 thì ion O 2- phải thay đổi sao cho trong liên kết AB khoảng cách A – O tăng lên, khoảng cách B – O giảm đi.
Từ đây cho thấy tương tác AB là lớn nhất. Dị hƣớng từ Dị hướng từ là một đặc điểm quan trọng của vật liệu từ, có liên quan đến các dạng tương tác từ trong tinh thể và nó có ý nghĩa quan trọng đối với ứng dụng của vật liệu như: ghi từ, nam châm. Dị hướng từ có thể gây nên bởi đối xứng tinh thể, hình dạng. của mẫu hay trật tự các cặp spin có định hướng khác nhau.
Trong các hệ từ dạng hạt hoặc màng mỏng dị hướng từ bề mặt có đóng góp quan trọng tới dị hướng từ tổng cộng của hệ bởi tỉ số các nguyên tử trên bề mặt là đáng kể so với các nguyên tử trong toàn bộ thể tích. z Trong phần này hai loại dị hướng từ chủ yếu cho hệ các hạt nano từ là dị hướng từ tinh thể và dị hướng từ bề mặt sẽ được trình bày một cách tóm tắt. Dị hƣớng từ tinh thể Trong tinh thể, mô men từ luôn có một định hướng ưu tiên dọc theo một phương nào đó của tinh thể. Khi từ hóa theo hướng ưu tiên thì mô men từ rất dễ đạt trạng thái bão hòa, hướng đó được gọi là trục dễ từ hóa, ngược lại khi từ hóa theo hướng khác khó đạt đến trạng thái bão hòa, các hướng này gọi là trục khó từ hóa.
Nếu tinh thể có 1 trục dễ từ hóa duy nhất (gọi là dị hướng đơn trục) thì năng lượng dị hướng từ tinh thể được tính theo công thức [5]: n E K1 .1) i 1 Với là góc giữa từ trường với trục dễ từ hóa, Ki là các hằng số dị hướng từ tinh thể mang đặc trưng của từng loại vật liệu khác nhau. Với tinh thể có đối xứng lập phương thì năng lượng dị hướng từ phụ thuộc vào côsin chỉ phương của véc tơ từ độ và các trục tinh thể theo công thức [5]: E K1 (12 .2) Với K1, K2 … là các hằng số dị hướng tinh thể, αi là các côsin chỉ phương giữa véctơ từ độ và các trục tinh thể. Các đường từ hóa theo các phương tinh thể khác nhau: (a) - Fe, (b) - Ni, (c) – Co [5]. Ví dụ trong hình 1.3 mô tả đường cong từ hóa của tinh thể Fe, Ni, Co theo các phương khác nhau.
Các phương khác gọi là trục khó từ hóa, để đạt giá trị bão hòa theo các phương này cần từ trường ngoài lớn hơn. Dị hƣớng bề mặt Khi kích thước hạt giảm tỉ số các nguyên tử trên bề mặt hạt so với bên trong hạt tăng lên, dẫn tới năng lượng dị hướng bề mặt sẽ chiếm ưu thế so với năng lượng dị hướng từ tinh thể và năng lượng tĩnh từ. Trong thực tế, tính đối xứng ở biên hạt bị phá vỡ do sự bất trật tự nguyên tử và các sai hỏng sinh ra các trường tinh thể địa phương, từ đó gây ra dị hướng bề mặt (bao gồm các trục và các mặt dị hướng).4 biểu diễn sự sắp xếp spin bề mặt của các hạt sắt từ trong hai trường hợp dị hướng bề mặt khác nhau (K < 0 tương ứng với trường hợp trục dễ và K > 0 tương ứng với K<0 K >0 trường hợp mặt phẳng dễ). Khi K so sánh với năng lượng trao đổi sắt từ, các cấu hình spin Hình 1.
Sự sắp xếp spin bề mặt nhận được tương tự như hình 1. Nhìn chung, của các hạt sắt từ trong hai dị hướng bề mặt làm cho lớp bề mặt khó từ trường hợp dị hướng bề mặt khác hóa hơn so với lớp lõi của hạt. Năng lượng dị hướng hiệu dụng cho mỗi đơn vị thể tích Keff , ở đây đơn giản chỉ bao gồm các đóng góp của dị hướng khối và bề mặt. Cho một hạt hình cầu, công thức để tính toán Keff là: 6 K eff K v Ks (1.3) d trong đó Kv và Ks lần lượt là phần đóng góp của thể tích và bề mặt tới dị hướng tổng cộng, thừa số (6 d) cho trường hợp hạt hình cầu.
Ví dụ, với hạt Co (có cấu trúc fcc và đường kính 1,8 nm) thì Kv = 2.7×106 erg cm-3 và Ks ≈ 1 erg cm-2, đóng góp của bề mặt vào dị hướng tổng cộng sẽ là 3.3 × 107 erg cm-3 nghĩa là lớn hơn một bậc so với đóng góp của dị hướng khối có cùng cấu trúc [20]. Hiệu ứng kích thƣớc 1. Đơn đô men Khái niệm đô men từ được đề xuất lần đầu tiên bởi Weiss [16]. Đô men được xem là vùng có spin định hướng đồng nhất và được chia tách bởi các vách nhằm cực tiểu năng lượng từ tổng cộng trong vật liệu sắt từ dạng khối.
Sự cân bằng của các dạng năng lượng: tĩnh từ, trao đổi, năng lượng dị hướng và năng lượng của vách đô men sẽ quyết định hình dạng và cấu trúc đô men. Khi kích thước của khối vật liệu giảm, kích thước của đô men sẽ giảm và cấu trúc đô men cũng như độ rộng vách đô men sẽ thay đổi. Các hạt trở thành đơn đô khi kích thước giảm đến một giới hạn nào đó, khi đó sự hình thành vách đô men sẽ trở nên không thuận lợi về mặt năng lượng. z Kích thước đơn đômen của từng loại vật liệu là khác nhau.