CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về vật liệu SrTiO3 1. Các thông số của SrTiO3 Bảng 1. Các thông số của SrTiO3 Thông số Giá trị Công thức hóa học SrTiO3 Màu sắc Trắng, mờ, đục Cấu trúc tinh thể Lập phương Khối lượng mol 183.49 (g/mol) Khối lượng riêng 5.5 Hằng số cách điện 300 (.cm)-1 Nhiệt độ nóng chảy 2080oC Hệ số dẫn nhiệt 12 (W/m.K) Hệ số độ giãn nở vì nhiệt 9.4 x 10-6C-1 Hệ số khúc xạ 2.41 Độ tan Không tan 1.
Cấu trúc tinh thể SrTiO3 là một loại Perovskite có công thức hóa học ABO3, có cấu trúc lập phương tâm khối. Ở các đỉnh hình lập phương là vị trí của cation Sr2+, số phối trí là 12 và bán kính rSr2+ = 1. Tâm của 6 mặt lập phương là anion O2-, số phối trí là 8, bán kính rO2- = 1. Ở tâm các hình lập phương là vị trí của cation Ti4+ số phối trí là 6, bán kính ion rTi4+ = 0.Thông số mạng tinh thể là 3.905 Å, độ dài liên kết của Ti-O và Sr-O lần lượt là 1.
Cấu trúc perovskite lý tưởng minh họa cho SrTiO3 [2] Trong cấu trúc này có sự tồn tại của khối bát diện TiO6 trong khối lập phương, đối với tinh thể lý tưởng thì SrTiO3 có cấu trúc lập phương, tuy nhiên trong trường hợp có sai lệch về mạng tinh thể thì không còn cấu trúc lập phương nữa,độ dài liên kết Ti-O bị thay đổi do đó dẫn đến sự ảnh hưởng một số tính chất của SrTiO3 [2]. Tính chất và ứng dụng Stronti Titanate SrTiO3 (tỷ trọng 4.88 đối với dạng tự nhiên, 5.13 đối với dạng nhân tạo) và mềm hơn kim cương nhiều (độ cứng Mohs 6–6.5 đối với dạng tự nhiên, 5.5 đối với dạng tổng hợp). Hệ thống tinh thể của nó dạng lập phương và chỉ số khúc xạ (2.41 đo bởi tia sáng Natri, λ = 589.3 nm) gần như tương tự kim cương, nhưng độ tán xạ của SrTiO3 thì cao hơn 4 lần. SrTiO3 tổng hợp thường có màu trắng, mờ, đục, nhưng ở dạng có pha tạp bởi nguyên tố đất hiếm hoặc kim loại chuyển tiếp tạo màu đỏ, vàng, nâu và xanh dương.
Vật liệu tổng hợp có điểm nóng chảy ở 2080oC và có thể phản ứng dễ dàng với HF [3, 4]. SrTiO3 có hằng số điện môi rất lớn ( = 300) ở nhiệt độ phòng, điện trường thấp và điện trở suất riêng hơn 109Ω-cm, nhờ vậy, nó được sử dụng trong tụ điện có điện thế cao. SrTiO3 trở thành siêu dẫn ở dưới 0.35 K và là chất cách điện đầu tiên được phát hiện. Ở nhiệt độ thấp hơn 105K, cấu trúc lập phương chuyển thành tứ diện.
Nó là một chất nền tuyệt vời cho sự phát triển lớp epitaxial của vật liệu siêu dẫn nhiệt độ 4 cao. Bên cạnh đó, đây là loại vật liệu phù hợp làm vật liệu điện tử chất lượng cao, điện cực dương trong pin nhiên liệu oxit rắn (SOFC) [5-7]. Ngoài những tính chất trên SrTiO3 còn mang một tính chất đặc biệt là sở hữu tính dẫn quang ổn định và thể hiện được hoạt tính xúc tác khi tiếp xúc với ánh sáng: gia tăng bình phương tính dẫn điện và tạo ra mức năng lượng đủ mạnh để oxy hóa các hợp chất hữu cơ bền [8]. Vì vậy, SrTiO3 hứa hẹn là vật liệu tiềm năng ứng dụng cho phản ứng xúc tác quang hóa.
Định nghĩa xúc tác quang Khái niệm quang xúc tác ra đời vào những năm đầu của thế kỉ XIX. Trong hoá học nó dùng để nói đến những phản ứng xảy ra dưới tác dụng đồng thời của ánh sáng và chất xúc tác, hay nói cách khác, ánh sáng chính là nhân tố kích hoạt chất xúc tác, giúp cho phản ứng xảy ra. Khi có sự kích thích của ánh sáng, trong chất bán dẫn sẽ tạo ra cặp điện tử - lỗ trống và có sự trao đổi electron giữa các chất bị hấp phụ, thông qua cầu nối là chất bán dẫn. Như vậy, chất xúc tác quang làm tăng tốc độ phản ứng quang hóa, cụ thể là tạo ra một loạt quy trình giống như phản ứng oxy hoá - khử và các phân tử ở dạng chuyển tiếp có khả năng oxy hoá - khử mạnh khi được chiếu bằng ánh sáng thích hợp ( < 390 nm) [9].
Cơ chế quá trình xúc tác quang dị thể Quá trình xúc tác quang dị thể có thể được tiến hành ở pha khí hoặc pha lỏng. Cũng giống như các quá trình xúc tác dị thể khác, quá trình xúc tác quang dị thể được chia thành các giai đoạn như sau [9, 10]: Khuếch tán các chất tham gia phản ứng từ pha lỏng hoặc khí đến bề mặt chất xúc tác. Hấp phụ các chất tham gia phản ứng lên bề mặt chất xúc tác. Hấp thụ photon ánh sáng, sinh ra các cặp điện tử - lỗ trống trong chất xúc tác, và khuyếch tán đến bề mặt vật liệu.
Phản ứng quang hóa, được chia làm hai giai đoạn nhỏ: 5 o Phản ứng quang hóa sơ cấp, trong đó các phân tử chất xúc tác bị kích thích (các phân tử chất bán dẫn) tham gia trực tiếp vào phản ứng với các chất hấp phụ lên bề mặt. o Phản ứng quang hóa thứ cấp, còn gọi là giai đoạn phản ứng “tối” hay phản ứng nhiệt, đó là giai đoạn phản ứng của các sản phẩm thuộc giai đoạn sơ cấp. Nhả hấp phụ các sản phẩm. Khuếch tán các sản phẩm vào pha khí hoặc lỏng.
Tại giai đoạn thứ ba, phản ứng xúc tác quang hoá khác phản ứng xúc tác truyền thống ở cách hoạt hoá xúc tác. Trong phản ứng xúc tác truyền thống, xúc tác được hoạt hoá bởi nhiệt còn trong phản ứng xúc tác quang hoá, xúc tác được hoạt hoá bởi sự hấp thụ ánh sáng. Điều kiện để một chất có khả năng xúc tác quang: Có hoạt tính quang hoá. Có năng lượng vùng cấm thích hợp để hấp thụ ánh sáng.
Có thể mô tả cơ chế xúc tác quang của các chất bán dẫn như sau: Hình 1. Cơ chế xúc tác quang 6 Quá trình ban đầu của xúc tác quang dị thể với chất hữu cơ và vô cơ bằng chất bán dẫn (Semiconductor Catalyst) là sự sinh ra của cặp điện tử - lỗ trống trong chất bán dẫn. Có rất nhiều chất bán dẫn khác nhau được sử dụng làm chất xúc tác quang như: TiO2, ZnO, SrTiO3, LaCoO3… Khi được chiếu sáng có năng lượng photon (hυ) thích hợp, bằng hoặc lớn hơn năng lượng vùng cấm Eg (hυ ≥ Eg), thì sẽ tạo ra các cặp electron (e-) và lỗ trống (h+). Các điện tử được chuyển lên vùng dẫn CB (Conduction band) (quang electron), còn các lỗ trống ở lại vùng hoá trị VB (Valence band).
Các phân tử của chất tham gia phản ứng hấp phụ lên bề mặt chất xúc tác gồm hai loại: Các phân tử có khả năng nhận e- (Acceptor - A). Các phân tử có khả năng cho e- (Donor - D). Quá trình chuyển điện tử có hiệu quả hơn nếu các phân tử chất hữu cơ và vô cơ bị hấp phụ trước trên bề mặt chất xúc tác bán dẫn (SC). Khi đó, các quang electron ở vùng dẫn sẽ chuyển đến nơi có các phân tử có khả năng nhận electron (A), và quá trình khử xảy ra, còn các lỗ trống sẽ chuyển đến nơi có các phân tử có khả năng cho electron (D) để thực hiện phản ứng oxy hoá: hυ + (SC) e- + h + (1) Aads + e- A-ads (2) Dads + h+ D+ads (3) Các ion A-(ads) và D+(ads) sau khi được hình thành sẽ phản ứng với nhau qua một chuỗi các phản ứng trung gian và sau đó cho ra các sản phẩm cuối cùng.
Như vậy quá trình hấp thụ photon của chất xúc tác là giai đoạn khởi đầu cho toàn bộ chuỗi phản ứng. Trong quá trình quang xúc tác, hiệu suất lượng tử có thể bị giảm bởi sự tái kết hợp của các electron và lỗ trống. e- + h + (SC) + E (4) Trong đó: (SC): tâm bán dẫn trung hòa. 7 E: là năng lượng được giải phóng ra dưới dạng bức xạ điện từ (hυ’ ≤ hυ) hoặc nhiệt.
Hiệu quả của quá trình quang xúc tác có thể được xác định bằng hiệu suất lượng tử, đó là tỉ lệ giữa số phân tử phản ứng trên số photon hấp thụ. Việc đo ánh sáng bị hấp thụ thực tế rất khó khăn ở trong hệ dị thể vì sự tán xạ của ánh sáng bởi bề mặt chất bán dẫn. Để xác định hiệu suất lượng tử chúng ta phải tuân theo 2 định luật quang hóa sau đây: Định luật Grotthuss và Draper: Chỉ có ánh sáng bị hệ hấp thụ mới có khả năng gây ra phản ứng, hay nói cách khác là phản ứng quang hóa chỉ xảy ra khi ánh sáng được hấp thụ bởi các phân tử bán dẫn. Định luật Einstein: Một photon hay lượng tử ánh sáng bị hấp thụ thì chỉ có khả năng kích thích một phân tử trong giai đoạn sơ cấp.
Hiệu suất lượng tử của hệ lý tưởng() được xác định bởi hệ thức đơn giản: N (5) N 0 Trong đó: N là số phân tử phản ứng N0 là số photon hấp phụ Khi một phân tử chất bán dẫn bị kích thích và phân ly ra một electron kèm theo một lỗ trống, số electron này có thể chuyển tới chất phản ứng, ta gọi là Nc, số còn lại kết hợp với lỗ trống để tạo lại một phân tử trung hòa Nk. Theo định luật Einstein ta có: N0 NC Nk (6) Giả sử mỗi phân tử (A) tham gia phản ứng nhận 1 electron, khi đó số phân tử phản ứng sẽ bằng số electron được vận chuyển. N NC (7) 8 Vậy hiệu suất lượng tử có giá trị: NC NC N k (8) kC kC k k (9) Nếu ta xét quá trình này xảy ra trong một đơn vị thời gian thì có thể thay số electron bằng tốc độ vận chuyển electron kc và tốc độ tải kết hợp electron kk. Ở đây ta thừa nhận rằng sự khuyếch tán của sản phẩm vào dung dịch xảy ra rất nhanh, không có phản ứng ngược tách điện tử A-, và tách lỗ trống của D+.
Để tăng hiệu suất lượng tử() chúng ta phải nghĩ cách tăng tốc độ chuyển điện tử kc và giảm tốc độ tái kết hợp electron với lỗ trống kk. “ Bẫy điện tích” được sử dụng để thúc đẩy sự bẫy điện tử và lỗ trống ở bề mặt, tăng thời gian tồn tại của electron và lỗ trống trong bán dẫn. Điều này dẫn tới việc làm tăng hiệu quả của quá trình chuyển điện tích tới chất phản ứng.