Chương I: TỔNG QUAN 1. Các hạt nano kim loại Trong các hạt nano nói chung, các hạt nano tinh thể kim loại gồm các hạt nano được chế tạo từ các vật liệu kim loại như Au, Ag, Pt, Cu, Co và các oxit như Fe 2 O 3 , CuO, trong đó các hạt Au, Ag được sử dụng nhiều nhất trong các ứng dụng quang. Có 3 phương pháp kích thích quang chính được sử dụng để kích thích quang các hạt kim loại là: i) Kích thích trực tiếp các hạt nano kim loại; ii) Kích thích gián tiếp thông qua các tâm mầu được gắn trên bề mặt hạt kim loại; iii) Các quá trình quang xúc tác trong hỗn hợp nano (nanocomposite) bán dẫn - kim loại. Khi được kích thích bằng ánh sáng tử ngoại hoặc nhìn thấy, các hạt nano kim loại thể hiện một số hiện tượng hấp dẫn bao gồm: Phát quang, quang phi tuyến và tăng cường tán xạ Raman (Suface Enhanced Raman Scattering- SERS).
Nhờ sự tăng đáng kể tín hiệu Raman do hiệu ứng trường gần, SERS được sử dụng như một công cụ phân tích cực nhạy, hơn cả kỹ thuật huỳnh quang. Các phân tử sinh học có thể được ghi nhận với độ nhạy gấp 1000 lần nếu chúng được gắn với một hạt vàng. Các hạt bạc cũng có nhiều ưu thế trong lĩnh vực này. Điều kiện chủ yếu của phép đo SERS là giữ bề mặt mấp mô một cách đồng nhất và lặp lại.
Tổng quan về các hạt nano bạc Như chúng ta được biết, khi các hình dạng các hạt nano kim loại bị giảm bậc đối xứng (không còn dạng cầu) thì chúng xuất hiện nhiều tính bất đẳng hướng về quang học và nhiều tính chất quang học lý thú mới [3]. Do đó, chúng được ứng dụng trong truy cập và phát hiện phân tử một cách dễ dàng trong các môi trường sinh học (phương pháp đánh dấu…) [4]. Dưới đây, nhóm nghiên cứu xin trình bày về hạt nano bạc và một số tính chất của hạt nano bạc. Học viên: Đỗ Mạnh Quyền 4 c Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên 1.
Giới thiệu về bạc và nano bạc. a) Sơ lược về tính chất vật lý bạc (Ag) Bạc (Silver - Argentum) là một nguyên tố trong bảng tuần hoàn hóa học có kí hiệu là Ag , khối lượng nguyên tử là M = 47. Bạc là một kim loại có hóa trị 1, mềm và dễ uốn (cứng hơn vàng một chút), có màu trắng bóng ánh kim nếu bề mặt có đánh bóng cao. Bạc có tính dẫn điện tốt nhất trong bất kỳ nguyên tố nào và có độ dẫn nhiệt cao nhất trong tất cả các kim loại.
Kim loại bạc xuất hiện trong tự nhiên dưới dạng nguyên chất như tự sinh, và ở dạng hợp kim với bạc và các kim loại khác, và trong các khoáng vật như argentit, chlorargyrit. Dưới đây là một số thông số cơ bản của bạc: Bảng 1.1: Các thông số cơ bản của bạc Trạng thái vật chất Rắn Khối lượng phân tử 107,8682 Điểm nóng chảy 961,7 0C Điểm sôi 2162,2 0C Nhiệt độ bay hơi 250,58 kJ/mol Thể tích phân tử 10,27. Nhiệt nóng chảy 11,3 kJ/mol Áp suất hơi 0,34 Pa tại 961,70C Vận tốc truyền âm 2600 m/s tại 20,150C Độ dẫn điện 6,301.107 /Ω·m Độ âm điện 1,93 (thang PAgling) Độ dẫn nhiệt 429 W/(m.K) Học viên: Đỗ Mạnh Quyền 5 c Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên Nhiệt dung riêng 232J/(kg.K) Năng lượng ion hóa 1. Trạng thái trật tự từ Nghịch từ.
b) Tính chất nguyên tử của bạc Bạc là kim loại chuyển tiếp có cấu hình electron: 1s2 22 2p6 3s2 3p6 3d10 4s2 4p6 4d10 5s1 , Bạc (Ag) thuộc chu kì 5, nhóm IB. Bạc có một electron ở lớp ngoài cùng tương tự như các kim loại kiềm. Bạc có cấu trúc tinh thể lập phương tâm mặt (hình 1.1) với các thông số ô mạng cơ sở a = b = c = 4,08 Å. 8 nguyên tử được bố trí tại 8 đỉnh của hình lập phương tương ứng với các tọa độ (000), (100), (110), (010), (001), (101), (111), (011).
6 nguyên tử bố trí ở tâm của 6 mặt của ô cơ sở tương ứng có tọa độ (1/2 0 1/2), (1 1/2 1/2), (1/2 1 1/2), (0 1/2 1/2), (1/2 1/2 0), (1/2 1/2 1).1: Cấu trúc tinh thể của bạc Đến nay bạc đã được tìm ra 19 đồng vị, trong đó có hai đồng vị thiên nhiên là Ag107 (chiếm 51,35% ) và Ag109 (chiếm 48,65%), còn lại là các đồng vị phóng xạ từ Ag102 đến Ag115, trong đó đồng vị phóng xạ bền nhất là Ag110 (có chu kì bán hủy là 270 ngày đêm). Đường kính nguyên tử bạc là 0,288 nm. c) Hạt nano bạc Học viên: Đỗ Mạnh Quyền 6 c Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên Nano bạc bao gồm các hạt bạc có kích thước nano mét, khoảng từ 1-100 nanomet [2]. Thông thường kích thước đo được khoảng 25 nanomet(nm), tùy theo các điều kiện chế tạo.
Các hạt nano bạc có diện tích mặt rất lớn giúp gia tăng tiếp xúc của chúng. Do chúng có kích thước nhỏ nên số nguyên tử tập trung trên bề mặt (hàng trăm đến hàng nghìn nguyên tử) chiếm tỉ lệ nhiều so với tổng số nguyên tử nên các tính chất lý, hóa học của chúng bị phụ thuộc nhiều và hình thái bề mặt hơn (hiệu ứng bề mặt) so với thể tích khối. Tính chất quang của hạt nano bạc Tính chất quang của các hạt nano kim loại quý nói chung và nano bạc nói riêng phụ thuộc mạnh vào kích thước và hình dạng của hạt nano. Ví dụ như vàng được sử dụng từ 5000 năm trước công nguyên chủ yếu dưới dạng khối nhờ vào độ bền hóa học và màu sắc rực rỡ trùng với màu của ánh sáng mặt trời.
Tới thế kỷ thứ 4 sau công nguyên các hạt vàng được tìm thấy trong các cốc Lamã Lycurgus [5] hình 1.2: Màu của cốc phụ thuộc vào vị trí chiếu ánh sáng [5] Bắt đầu từ khoảng những năm 1300 sau Công Nguyên, hạt keo vàng và keo bạc bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong y học cũng như trong kỹ thuật từ khi các nhà giả kim học có thể hòa tan được vàng và bạc khối vào các chất khác để tạo ra các “chất lỏng mầu nhiệm” với các màu sắc khác nhau. Từ đó tới nay, có thể tìm thấy các ứng dụng của các hạt keo vàng, keo bạc ở khắp nơi: trong nhà thờ (kính mầu), bát đĩa sứ (mầu men), thuốc chữa bệnh…Nhờ vào các mầu sắc rực rỡ của các dung dịch hạt vàng, bạc tùy thuộc vào hình Học viên: Đỗ Mạnh Quyền 7 c Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên dạng và kích thước hạt, người ta có thể tạo ra các dung dịch với mầu sắc khác nhau theo ý muốn bằng cách khống chế hình dạng và kích thước hạt. Đến thế kỷ 19, năm 1850 Faraday chế tạo các hạt vàng và nhận ra rằng mầu sắc của dung dịch chứa hạt vàng được quyết định bởi kích thước hạt, thì bản chất của các mầu sắc đó mới được làm sáng tỏ. Năm 1897, Richard Zsigmondy một nhà hóa học người Đức đã chứng minh được rằng màu đỏ tía của men sứ (thường gọi là màu Cassius) là sự kết hợp của hạt keo vàng và axit Stannic.
Nhờ phát minh này ông đã được giải Nobel năm 1925. Năm 1908 Mie đã giải thích các tính chất quang đặc biệt của hạt vàng do hấp thụ và tán xạ plasmon bề mặt. Điều này không chỉ đúng với các hạt keo vàng mà nó còn đúng với các hạt nano kim loại quý nói chung, trong đó nano bạc cho các tính chất quang hoàn toàn phù hợp với với lý thuyết Mie.3: Phổ hấp thụ plasmon và mầu sắc dung dịch của các hạt nano bạc phụ thuộc vào hình dạng của nó [6]. a) Cộng hưởng plasmon bề mặt (Surface plasmon resonance-SPR) Plasmon: dao động tập thể của các điện tử tự do ở các tần số quang học.
Plasmon bề mặt (Surface plasmon): dao động của điện tử tự do ở bề mặt của hạt nano với sự kích thích của ánh sáng tới Học viên: Đỗ Mạnh Quyền 8 c Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên Cộng hưởng plasmon bề mặt (Surface Plasmon Resonance - SPR): cộng hưởng plasmon bề mặt là sự kích thích tập thể đồng thời của tất cả các điện tử “tự do” trong vùng dẫn tới một dao động đồng pha (hình 1.4: Hiện tượng plasmom bề mặt hạt nano kim loại khi bị kích thích bởi bức xạ điện từ Một trong những tính chất quang học quan trọng nhất của hạt nano bạc đó là hiện tượng plasmon bề mặt. Khi ánh sáng (bức xạ điện từ) tương tác với bề mặt kim loại, nó kích thích các điện tử lớp ngoài cùng của kim loại làm cho các điện tử này dao động, toàn bộ khối điện tử dịch chuyển về một phía, để lại các ion nút mạng tinh thể. Khi đó, khối kim loại sẽ bị phân cực. Sự chênh lệch điện tích thực tế ở các biên của hạt nano về phần mình sẽ hoạt động như một lực hồi phục của lò xo (Restoring Force).
Như vậy, một dao động lưỡng cực của các điện tử với một chu kì T được tạo ra.4 mô tả sự hình thành dao động lưỡng cực của các điện tử trên bề mặt hạt nano kim loại. Theo lý thuyết Mie, đối với các hạt nano dạng cầu thì vị trí đỉnh cộng hưởng plasmon phụ thuộc vào ba yếu tố cơ bản: (i) thứ nhất là hình dạng và kích thước của hạt nano, (ii) thứ hai là bản chất của vật liệu, (iii) thứ ba là môi trường xung quanh của hạt nano. Lý thuyết Mie được áp dụng cho các hệ có nồng độ hạt nhỏ và bỏ qua tương tác giữa các hạt nano [7]. Đỉnh phổ hấp thụ của hạt nano bạc sẽ dịch về phía bước sóng ngắn khi kích thước hạt giảm và dịch về bước sóng dài khi kích thước của hạt nano bạc tăng lên [7].
Học viên: Đỗ Mạnh Quyền 9 c Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên Hình 1.5: Sử dụng lý thuyết Mie để tính toán và xác định hiệu suất quang của của các hạt nano bạc có hình dạng khác nhau [8] b) Lý thuyết Mie Các tính chất quang phụ thuộc vào kích thước của các hạt keo đã được khảo sát chuyên sâu thông qua tán xạ Mie. Lý thuyết Mie mô tả toán lý sự tán xạ của bức xạ điện từ bởi các hạt cầu nhúng trong một môi trường liên tục bằng cách giải phương trình Maxwell cho một sóng điện từ tương tác với một quả cầu nhỏ, có hằng số điện môi phụ thuộc vào tần số giống như vật liệu khối.