phần Mở đầu, Kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương với nội dung: Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương này trình bày tổng quát tính chất plasmonic của các cấu trúc nano kim loại: Hiệu ứng plasmon bề mặt, tần số cộng hưởng plasmon, sự phụ thuộc của tính 4 chất plasmonic vào hình dạng của các cấu trúc nano kim loại; và ứng dụng plasmonic trong quang nhiệt, cảm biến sinh học và chẩn đoán Chƣơng 2: Lý thuyết Mie và gần đúng môi trƣờng hiệu dụng Chương này sẽ trình bày lý thuyết Mie và phương pháp gần đúng môi trường hiệu dụng để nghiên cứu và tính toán các hệ số dập tắt và hấp thụ của các cấu trúc nano kim loại. Chƣơng 3: Tính chất quang học của cấu trúc nano kim loại tích hợp với protein BSA Chương này sẽ xây dựng mô hình lý thuyết cơ sở cho tính chất quang của cấu trúc nano tích hợp, từ đó sẽ trình bày một giải thích toàn diện cho tính chất quang học của dây nano bạc bọc các phân tử protein BSA. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tính chất plasmonic của các cấu trúc nano kim loại 1.
Hiệu ứng plasmon bề mặt – tính chất plasmonic của các cấu trúc nano kim loại Tính chất plasmonic của các cấu trúc nano kim loại được hiểu là các tính chất quang học đặc biệt của các hạt nano kim loại có liên quan đến hiện tượng cộng hưởng plasmon mạnh trong vùng nhìn thấy và hồng ngoại gần của phổ điện từ. Sự cộng hưởng plasmon tồn tại trong tất cả các kim loại và là sự kích thích các dao động tập thể của các electron tự do trong vùng dẫn của một trường điện từ trường ngoài. Thuật ngữ “Plasmon” và “Plasmon bề mặt” được sử dụng để mô tả các dao động tập thể của một nhóm các electron tự do (còn gọi là các điện tử dẫn) trong kim loại. Plasmon bề mặt (SP) là các sóng điện từ lan truyền dọc theo biên phân cách của hai vật liệu với các hàm điện môi trái dấu, ví dụ như một kim loại và một điện môi [2].
Thuật ngữ plasmon polariton (SPP) cũng được sử dụng tương tự như plasmon bề mặt. SPP là sự kết hợp của SP với photon ánh sáng tới, có thể lan truyền dọc theo bề mặt kim loại cho đến khi năng lượng của nó mất hết do sự hấp thụ trong trong kim loại hoặc sự bức xạ năng lượng trong không gian tự do. Do đó có thể hiểu Plasmon bề mặt (Surface plasmon, SP) là các mode liên kết của trường điện từ của ánh sáng tới và các điện tử tự do trong kim loại [5]. Chúng có thể xem như ánh sáng hai chiều bị ràng buộc bởi một mặt phân cách kim loại - điện môi và có thể bị giam giữ theo các kích thước nhỏ hơn nhiều so với bước sóng ánh sáng trong không gian tự do.
Trong các hạt nano kim loại, cộng hưởng plasmon tồn tại ở lớp tiếp xúc giữa kim loại và chất điện môi. Các nghiên cứu cho thấy, cộng hưởng plasmon còn bị giới hạn theo chiều ngang vì kích thước nano của các hạt nano kim loại. Do đó, chúng được gọi là cộng hưởng plasmon bề mặt định xứ (Localized surface plasmon resonances (LSPR). Bước sóng LSPR phụ thuộc vào hàm điện môi của cả kim loại và môi trường xung quanh, hình thái của các hạt nano kim loại và số lượng điện tử tối ưu [29].
Vì bước sóng kích thích của trường ánh sáng tới thường lớn hơn nhiều so với kích thước của các hạt nano kim loại được nghiên cứu (λ >> r), các mode LSPR (các 6 dao động cộng hưởng plasmon định xứ) có một lưỡng cực đặc trưng (gọi là lưỡng cực cảm ứng). Trong trường hợp các hạt nano hình cầu (đẳng hướng), một lưỡng cực cảm ứng dọc theo vectơ điện trường của sóng ánh sáng. Mô men cảm ứng (corresponding moment) µind được xác định bởi điện từ trường ngoài E0(ω0) và độ phân cực α của các hạt nano kim loại (µind = αE0(ω0)). Trong trường hợp các hạt nano dị hướng thì phức tạp hơn vì độ phân cực α là một tenxơ, các thành phần của nó có thể khác nhau dọc theo ba trục chính và một vài mode lưỡng cực có thể tồn tại phụ thuộc vào sự đối xứng và định hướng hạt nano.
Điển hình nhất là đối với các thanh nano kim loại.1 mô tả sự hình thành cộng hưởng plasmon định xứ của thanh nano kim loại. Thanh nano kim loại có hai LSPR lưỡng cực khác nhau, đó là mode ngang (dao động điện tử vuông góc với trục chính) và mode dọc (dao động điện tử song song với trục chính) [4]. Minh họa cộng hưởng plasmon bề mặt của thanh nano kim loại [4] Các nghiên cứu cho thấy, ứng với mỗi mode dao động ngang và dọc của các electron trên thanh nano kim loại, đỉnh hấp thụ cộng hưởng plasmon quan sát thấy khác nhau.2 trình bày phổ hấp thụ cộng hưởng lasmon của một thanh nano kim loại vàng được quan sát thấy 2 đỉnh cộng hưởng (hình 1. Đỉnh cộng hưởng ở 7 bước sóng sóng ngắn hơn được quy cho mode dao động ngang; còn đỉnh cộng hưởng ở bước sóng dài hơn được quy cho mode dao động dọc.
Bước sóng của mode dọc ở đây dịch chuyển đỏ đáng kể so với mode ngang, do độ phân cực α của mode dọc lớn hơn [4, 22]. Phổ hấp thụ cộng hưởng plasmon của thanh nano vàng [4] Hình 1. Phân bố cường độ trường định xứ cho thanh nano (ii) và nano hình sao (iii), so với hình cầu (i) trong điều kiện kích thích ở hai bước sóng khác nhau 8 Sau khi kích thích cộng hưởng các LSPR mạnh, trường EM định xứ (trường gần) được tăng cường đáng kể so với trường kích thích tới E0 (ω0) được tạo ra ở bề mặt hạt nano. Trường định xứ này lần lượt kết hợp các trường tới và phát xạ lại bức xạ có cùng bước sóng (tán xạ cộng hưởng).
Khi tiết diện tán xạ tỷ lệ với α2, trường định xứ cũng tăng mạnh đối với các hạt nano dị hướng nếu so với các hạt nano dạng cầu do α lớn hơn. minh họa phân bố trường định xứ ở các hạt nano kim loại có cấu trúc khác nhau. Các hạt nano dài hoặc có góc, cạnh chẳng hạn như nano thanh, ống, cubic sẽ có trường định xứ mạnh tập trung ở các đỉnh. Các đỉnh trên các hạt nano này được miêu tả tương tự như các bẫy điện tử.
Các bẫy các điện tích kim loại này dao động trong không gian giới hạn, ví dụ như tại các đầu típ của các hạt nano hình sao, có thể dẫn đến tăng cường trường định xứ mạnh hơn. Những vùng có trường gần định xứ cao này được gọi là các “hot pots” nội tại. Một loại khác, các “hot pots” được tạo ra khi các hạt nano ở gần nhau trong khoảng cách rất ngắn (1-10nm) hoặc nằm trên đỉnh một đế rắn. Sự kết hợp của các mode plasmon giữa các hạt nano riêng lẻ hoặc giữa một hạt nano với một bề mặt kim loại phẳng dẫn đến các mode mới với các trường EM định xứ có cường độ cao tại các khoảng trống hẹp trong phạm vi tiếp xúc [39].
Minh họa tính chất tứ cực (b) và sáu cực (c) của LSPR trong các thanh nano so với lưỡng cực (a) và phân bố cường độ trường EM tương ứng Trong các hạt nano lớn hoặc những hạt có tỷ lệ các cạnh cao, các mode LSPR với tính chất đa cực cũng có thể bị kích thích, chẳng hạn như mode đa cực dọc trong 9 các hạt nano thanh dài. Các mode này khác nhau về độ lớn trường gần và phân bố. Ngoài hai loại “hot pot” như đã nói ở trên, các nút giao trường cao tương ứng với các mode dao động hình thành dọc theo trục chính, như được mô tả trong hình 1. Tần số cộng hƣởng plasmon và sự phụ thuộc vào hình dạng trong các cấu trúc nano kim loại Các nghiên cứu cho thấy, tính chất độc đáo của cộng hưởng plasmon bề mặt là sự phụ thuộc của tần số cộng hưởng plasmon vào bản chất của kim loại, kích thước, hình dạng hạt nano, và môi trường xung quanh hạt.
Các biến số trong các thông số này cho phép điều chỉnh cả tần số cộng hưởng plasmon cũng như cường độ của trường plasmon của các cấu trúc nano kim loại. Giả sử có một hạt nano kim loại với hàm điện môi 1 đặt trong môi trường có hàm điện môi 2 (hình 1.5), chúng ta sẽ đi nghiên cứu tần số cộng hưởng plasmon của hạt nano này và các thông số liên quan đến nó. Minh họa một hạt nano kim loại với hàm điện môi 1 đặt trong môi trường có hàm điện môi 2 Theo mô hình khí điện tư tự do cuả Drude, phần thực r trong hàm điện môi của kim loại ( ( ) ( ) ( )) được xác định như sau [16]: ω2p εr 1 2 (1.1) ω + γ2 trong đó là tần số dao động cộng hưởng plasmon (gọi tắt là tần số plasmon); p là là tần số của dao động plasma trong kim loại khối và γ là tần số va chạm của điện tử. Vì γ << ω, phần thực hàm điện môi của kim loại được biểu diễn [16]: ω2p εr 1 2 ω trong đó P là tần số plasma của kim loại khối, có biểu thức trong đơn vị SI là: 10 ne2 ωp ε 0 m* với n là mật độ điện tích, e là điện tích của điện tử, m* là khối lượng hiệu dụng của điện tử và 0 là hằng số điện môi trong chân không.
Tần số plasmon bề mặt được cho bởi: SP P / 1 2 (1.2) Sự khác nhau về tần số cộng hưởng plasmon trong các hạt nano kim loại keo khác nhau này được giải thích là do có sự ảnh hưởng đáng kể của các điện tử bên trong lõi hạt nano kim loại lên các chuyển dời liên vùng hoặc bên trong một vùng năng lượng của điện tử làm cho tính chất điện tử của các kim loại khác nhau là khác nhau. Để minh họa sự ảnh hưởng này, số hạng mô tả phần tần số cao được thêm vào hàm điện môi của kim loại theo biểu thức sau [16]: ω2p ε r ε 2 (1.3) ω Từ điều kiện xảy ra cộng hưởng, biểu thức tần số cộng hưởng plasmon bề mặt của kim loại là: ne2 ωSP ω (1.