CHƯƠNG 1 MOT SO TÍNH CHAT ĐẶC TRUNG CUA HE VAT LIEU PEROVSKITE La,.,Ca,MnO; La,.,Ca,MnO; là một thành viên của họ hợp chất perovskite có công thức hóa hoc là ABO3. Ion Mn nămở vị trí B ở tâm của khối hộp và bát diện bao quanh được tạo bởi 6 ion Oxy. Gần kề là bát điện MnO, nam tại các đỉnh. Các ion La** và Ca?” được phân bố bat kỳ tại vị tri A trên mạng tinh thể.
Khối lập phương đơn vị được biểu diễn ở hình 1.1 Khối lập phương đơn vị lý tưởng khi nó nằm ở vùng nhiệt độ cao khoảng 1000K khi đó perovskite là một khối. Ở vùng nhiệt độ thấp hơn, bát diện MnO, bị méo và xoay quanh Oxy do đó làm giảm bớt tính đối xứng của hệ thống Lay. Dưới nhiệt độ 700K, cấu trúc trở thành trực thoi Pnma với mọi gia trị pha tạp của Ca, dẫn đến có thể được nghiên cứu trong trường hợp không có quá trình chuyên pha cau trúc. © Mn C) La hoặc Ca Hình 1.1: Khdi perovskite (La,Ca)MnO3.
La hoặc Ca ở vị tríA va Mn ở tâm hình lập phương. Cac hợp chất pha tạp côban trong hệ perovskite Trước khi trình bày về tính chất của vật liệu perovskite, tôi xin trình bày sơ lược lý do lựa chọn kim loại côban trong họ vật liệu Lai „CayMnOa. Về mặt ứng dụng có ba tính chất hỗ trợ cho việc nghiên cứu các kim loại thuộc họ côban sau: 1. Từ trở: từ trở biểu thị trong các hợp chat thay thé côban như ( LuBaCo,O, , Ln = Er, Gd) là khá thú vị bởi nó giúp phát triển kho lưu trữ dữ liệu từ.
Suất dẫn ion cao: Các kim loại thuộc họ côban ba chiều có độ dẫn ion cao (phát hiện đầu tiên là La,.M,CoO;, Ln = nguyên tố đất hiếm, M = La, Ca, Sr [1, 3, 4, 5]). Điều này giúp cho chúng trở thành ứng viên cho việc chế tạo chất xúc tác ôxy hóa, các cảm biến khí và vật liệu điện cực cho các tế bao nhiên liệu. Siêu dẫn: Tính siêu dẫn được phát hiện gần đây trên hợp chất Na,3sCoO,.3H,O tương tự như tính chất siêu dan của các hợp chất siêu dẫn nhiệt độ cao chứa đồng đã được thừa nhận. Ba tính chất này có nguồn gốc từ sự tác động mạnh lẫn nhau giữa cấu trúc tinh thé, tính chất truyền dẫn, dẫn đến các giản đồ pha như là hàm của nhiệt độ, từ trường, áp suất, lượng ôxy và kích thước của các ion đất hiếm.
Một tính chất nổi bật của hợp chất pha tạp Co với các oxit kim loại 3d khác là: sự tách mức trường tinh thé (A,,) của mức năng lượng 3d của ion Co trong hợp chat cùng bậc về cường độ như quy luật Hund về trao đổi năng lượng nội nguyên tử Jự„. Do đó, sự dịch chuyên trạng thái spin có thể dễ dang thực hiện hoặc do sự biến đổi nhiệt độ, gây ra một từ trường hay áp suất với sự điều chỉnh các thông số cau trúc (như phân tử ôxy, loại đất hiếm) của vật liệu. Số điện tử trong lớp 3d của Co cho phép tồn tại ba trạng thái spin: trạng thái spin cao (HS), trạng thái spin thấp (LS), trạng thái spin trung gian (IS). Cũng giống như các kim loại chuyền tiếp khác được pha tạp, các hợp chất pha tạp côban có thé cung cấp các vacancy Oxy, từ đó làm cho tỷ số Co”, Co?” và Co* thay đôi.
Điều này ảnh hưởng mạnh đến các tính chất từ và tính chất truyền và là nguôn gôc của độ dân 1on hóa. Đây là các tính chât quan trọng trong các vật liệu vancancy Oxy. Kích thước của cation ở vị tri A Nếu các ion có dạng hình cầu va chạm nhau ở trạng thái cân bang thì ta có thé sử dụng thừa số dung hạn Goldschmidt (t) để biểu diễn tham số trong cấu trúc lý tưởng. t được định nghĩa là tỷ số độ dài của đường chéo mặt trên đường rìa khối và cho bởi công thức: — (T}+TQ T Bye tty) oY Trong đó rụụ và rọ lần lượt là bán kính của các ion Mn va Oxy và (r,) la bán kính trung bình cua cation ở vị tri A.
Nếu các cation ở vị tri A lap đầy chính xác vào các lỗ trống thì khi đó t = 1 và perovskite trở thành 1 khối. Tuy nhiên, trong thực tế không có trường hợp như vậy và cấu trúc ổn định thường dao động 0. Trong tính toán, giá tri của các cation ở vi trí A và các giá trị bán kính ion được lay từ Shannon [10]. Bán kính của Mn** và Mn** lần lượt là 0.53, giá trị trung bình của rwụ phụ thuộc vao tỷ lệ giữa hai loại ion Mn.
Gia tri ro = 1.21A, do đó dé thu được những khối lý tưởng, giá trị (r,) phải biến đổi tuyến tính từ 1. Chú ý rang giá tri giản tiếp của t phụ thuộc mạnh vào bán kính ion và sự sắp xếp sé lượng được sử dụng. Trong thực tế, các ion ở vị trí A thường nhỏ hơn bán kính lý tưởng, dẫn đến sự quay của bát điện MnO¿. La** và Ca?" có bán kính lần lượt là 1.18 A, dẫn đến thừa số dung hạn là 0.958 với LaMnO; và 0.198 A và thừa số dung hạn bằng 0.
Giá trị của (r,) về cơ bản nhỏ hơn giá trị lý tưởng 1.286 A va bát diện MnO, xoay hoặc biến dang dé cải thiện sự ép nén vật liệu. Ô đơn vị thực là trực thoi Pnma đã nêu ở trên. Cấu trúc mạng Pnma có thể thu được từ khối perovskite lý tưởng như sau: () Sự xoay của các đỉnh bát diện Oxy quanh trục z. Khi các đỉnh bát diện được duy trì kết nối, các đỉnh bát diện ở mặt phắng x - y xoay theo các hướng ngược nhau.
Kết quả này dẫn đến sự tăng gấp đôi 12 xAl2 ở các 6 (thông thường là ở mặt phăng a - c). Dẫn đến sự giảm tính đối xứng tới 4 cạnh. (ii) Trạng thái nghiêng của bát điện trong liên kết Mn-O-Mn ở phương c trong mặt phăng a - c, dẫn đến trạng thái nghiêng đối nghịch của các lớp liền nhau. Kết quả này dẫn đến sự tăng gấp đôi của các ô đơn vị nguyên thủy dọc theo trục b và tính đối xứng trực thoi.
Điều này dẫn đến việc giảm nhẹ b và một tham số khác trong mặt phẳng (thường là c). Khối lượng của 6 đơn vị có khuynh hướng được duy trì và tăng nhẹ ở a. Ô đơn vị thực là trực thoi Pnma với a~~ 2a, Va b= 2a,. Trong đó, a, là tham số mạng của 6 don vi khối giả định.
Ô đơn vị của Lai „,Ca,MnO; trở thành trực thoi với mọi giá trị pha tạp của Ca. Ô đơn vị thực được chỉ ra ở hình 1.2 và mối quan hệ giữa 6 đơn vị lập phương và trực thoi được thể hiện ở hình 1.2: Các 6 don vị Pnma cua La;.,Ca,MnO; tạo ra do sự biến dạng từ các ô đơn vị khối. Các ion được thể hiện bằng màu đen (mangan), màu xám (La hoặc Ca) và trắng (oxy). Hình được hiển thị bao gồm bồn khối perovskite[12J.
001 010 010 100 100 001 cubic orthorhombic Hình 1. O đơn vị hình thoi (đường đậm) và khối (đường mo) trong Laj.,Ca,MnO; và định hướng tương đối của các trục tỉnh thể. Một phần độ lệch trong đó là do độ kéo dài hoặc độ uốn cong các liên kết Mn-O-Mn, sẽ làm giảm sự chồng chấp các obital và biên độ nhảy của độ linh động các electron e;. Từ đó có thé nghiên cứu sự tác động do ảnh hưởng của áp suất hóa học trong liên kết Mn-O-Mn băng cách thay thế các ion hóa trị ba có kích thước khác nhau trong cấu trúc perovskite trong khi vẫn giữ nguyên tỷ lệ các ion hóa trị hai.
Sự thay thế các ion làm cho hóa trị của Mn và thế linh động các electron là không đổi. Tuy nhiên, điều này dẫn đến sự mất trật tự trong tinh thé. Khi không tính đến độ mất trật tự của các cation, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu chi tiết ảnh hưởng của kích thước trung bình của các cation ở vị trí A [22] và kết quả đặc trưng được miêu tả ở hình 1. Hầu hết các nghiên cứu đã chỉ ra rang, từ trở tăng và T, giảm cùng với sự giảm của (r,) [8].
Điện trở suất [R (T) /R (T = 300 K)] so với nhiệt độ cho một loạt các mẫu của Lao;.„Y,Cau sMnO; với x = 0; 0,07; 0,1; 0,15; 0,2 và 0,25. Liên kết Mn-O- Mn trở thành phi tuyến tính với giá trị Y ngày càng tăng. Rodruguez-Martinez và Attfield đã nghiên cứu cấu trúc da tinh thé cơ bản của Lai.„Ca,MnO; với sự phân bố của các cation ở vị trí A. Họ đã sử dụng hai tham số: bán kính trung bình (r,) : là dai lượng có liên quan tới trang thái méo tinh và độ biến đổi o? = (2) -ứ, : là đại lượng liên quan đến độ mất trật tự.
Kết quả cho thay (r,) luôn là hằng số và bằng 1,20A, nhưng ơ? biến đổi từ 0. Hau hết đều trai qua quá trình chuyền trạng thái kim loại - điện môi (hình 1.5: Nhiét độ phụ thuộc điện trở suất của mẫu da tinh thể Lao. Vi trí Cation A có kích thước trung bình là 1,20A [10]. Trường bát diện, su tach mức năng lượng và trật tự quỹ dao trong trường tinh thé bát diện Trong vật liệu Perovskite ABO; tồn tại bát diện BO,.
Trong hợp chất LaMn0O; (khi B là Mangan) là bát diện MnOs. Các tinh chất điện, từ của manganite phụ thuộc rất mạnh vảo vị trí của ion từ Mn (vị trí B). Từ cấu trúc tinh thé Perovskite (hình 1.1) chúng ta có thé thay 6 ion Oxy mang điện tích âm ở đỉnh bát diện va 1 ion kim loại chuyển tiếp Mn** mang điện tích dương ở tâm bat diện. Một cách gần đúng, lý thuyết trường tinh thé coi liên kết giữa ion trung tâm mang điện tích dương và các ion Ôxy mang điện tích âm chỉ là tương tác tĩnh điện.
Trường tĩnh điện tạo bởi các ion Ôxy nằm ở đỉnh bát diện như hình 1.1 gọi là trường tinh thé bát diện (octahedra field). lon Mn tự do a Hình 1.6: Sự tách mức năng lượng của ion Mn** a: Dich chuyển năng lượng do tương tac dipole. b: Tach mức năng lượng trong trường tinh thé. c: Tach mức Jahn - Teller.
Sự tach mức năng lượng và trường tinh thé bát diện gây anh hưởng đến trạng thái của các điện tử d của các ion kim loại chuyền tiếp. Đối với một nguyên tử tự do, các quỹ đạo có cùng số lượng tử n là suy bién và có cùng một mức năng lượng. Tuy nhiên với hợp chất Perovskite, dưới tác dụng của trường tỉnh thê bát diện, các quỹ đạo d của các kim loại chuyển tiếp được tách ra ở những mức năng lượng khác nhau.