CHƯƠNG 1. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 1. Vật liệu để làm mũ giầy và yêu cầu đối với chúng 1. Vật liệu làm mũ giầy Giầy nói chung được cấu tạo từ 2 phần: Phần đế giầy và phần mũ giầy [10].
Lớp chi tiết lót (lót mũ giầy) - Các chi tiết bên trong, tiếp xúc trực tiếp với phần mu bàn chân. Lớp chi tiết tăng cường - các chi tiết nằm giữa chi tiết bên ngoài và lót có tác dụng làm ổn định hình dạng của mũi giầy. Phần đế giầy che phủ phần lòng bàn chân, tương tự bao gồm 3 lớp: lớp chi tiết bên ngoài (đế giầy, gót giầy), lớp chi tiết lót (còn gọi là lót giầy: tiếp xúc trực tiếp với lòng bàn chân) và lớp chi tiết đệm giữa (độn đế). Lớp chi tiết bên ngoài của mũ giầy là lớp chi tiết quan trọng nhất quyết định đến hình dạng, kiểu dáng, ngoại hình, thẩm mỹ và chất lượng giầy.
Chúng có tính chất bảo vệ và chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố bên ngoài (của môi trường sử dụng). Do vậy chúng cần có các yêu cầu cụ thể về tính chất cơ lý, tính thẩm mỹ. Lớp lót giầy nói chung được hiểu là các chi tiết bên trong của giầy (ở phần mũi giầy và phần đế giầy) tiếp xúc trực tiếp với bề mt bàn chân. Chi tiết lót giầy (hay còn gọi là lót mt) được hiểu là chi tiết tiếp xúc với bề mt lòng bàn chân, cách ly bàn chân với đế giầy.
Lớp lót thường chịu tác động mạnh mẽ từ bàn chân, bị mài mòn, chịu tác động của ẩm, mồ hôi và vi sinh vật. Lớp lót có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo vệ sinh, sinh thái cho bàn chân, do vậy có yêu cầu cht chẽ về các tính chất vệ sinh, sinh thái. Trong sản xuất giầy, để làm mũ giầy người ta thường sử dụng các loại vật Nguyễn Gia Phong 13 Luận văn cao học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Viện Dệt may - Da giầy và Thời Trang liệu: da thuộc (da váng, da cật), vải (vải dệt thoi, vải dệt kim), giả da và các loại vật liệu khác như mút xốp, xốp EVA v. Da thuộc Da thuộc là vật liệu tryền thống và được sử dụng nhiều để làm giầy và các sản phẩm da vì có nhiều ưu điểm.
Da thuộc là lớp bì của con da động vật, về cơ bản duy trì được cấu trúc xơ, nhưng các tính chất vật lý, hóa lý và hoá học của các thành phần cấu trúc của nó bị thay đổi tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng da. Da thuộc được sản xuất từ da nguyên liệu là các bộ da động vật. Da động vật cấu tạo từ lớp biểu bì, lớp bì và lớp thịt (bạc nhạc) dưới da (hình 1.1) và lớp lông phủ. Trong sản xuất da thuộc người ta chỉ sử dụng lớp bì, loại bỏ lớp lông, lớp biểu bì và lớp bạc nhạc [12].
Cấu trúc da nguyên liệu Da thuộc được làm từ da của nhiều loại động vật như trâu, bò, lợn, dê, cừu v., trong số đó da trâu bò chiểm tỷ lệ cao nhất 68,8% của tổng số sản lượng da thuộc mỗi năm; da cừu 12,9%, da dê 11,6%, lợn 6,7%, da các loài động vật khác khoảng 1%. Sản lượng da thuộc duy trì gần như không thay đổi trong những năm gần đây (hình 1. Nguyễn Gia Phong 14 Luận văn cao học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Viện Dệt may - Da giầy và Thời Trang Hình 1. Biểu đồ sản lượng da trâu bò nguyên liệu những năm gần đây (nguồn: Số liệu của SATRA 2012) Da thuộc được sử dụng cho nhiều nhóm sản phẩm, tuy nhiên nó vẫn chủ yếu được dùng để sản xuất giầy (chiếm gần 60% - hình 1.
Biểu đồ sử dụng da thuộc toàn cầu năm 2012 (nguồn: Số liệu của SATRA 2012) Nguyễn Gia Phong 15 Luận văn cao học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Viện Dệt may - Da giầy và Thời Trang *Đặc điểm cấu tạo của da [11-12]: Thành phần cấu tạo của da là protit bao gồm: colagen 50 ÷ 80%, các chất không phải protit colagen 20 ÷ 50%. Trong lớp bì của da nguyên liệu colagen chiếm hơn 80%. Protít cấu tạo rất phức tạp, khi thủy phân protít thu được 20 aminoaxit khác nhau, mà trong thành phần colagen có 18 aminoaxit khác nhau. Các aminoaxit liên kết với nhau và được định hình bởi các mạch peptít của protít.
Ngoài thành phần hóa học, cấu tạo mạch của colagen cũng không giống với các protít khác, cấu trúc mạch không gian của colaghen rất phức tạp gồm có 4 bậc cấu trúc khác nhau. Khoảng 700 ÷ 800 phân tử colagen tạo thành 1 xơ mịn đường kính khoảng 100 nm, tiếp theo 200 - 1000 xơ mịn kết hợp lại thành các xơ thành phần và từ 30 - 300 xơ thành phần này liên kết lại thành các xơ, và các xơ đan bện với nhau tạo nên lớp bì của da nguyên liệu. Mỗi phân tử colagen chứa 3 mạch peptit và mỗi mạch peptit chứa khoảng 1052 phân tử aminoaxit. Công thức chung của aminoaxit (a) và mạch polypeptit (b) Các tính chất cơ bản của da [12]: Các tính chất của da phụ thuộc chủ yếu vào tính chất của colagen.
Tính chất của colagen được xác định bởi cấu tạo hóa học, dạng và các đc điểm của các nhóm chức và các mối liên kết xuất hiện giữa chúng. Tùy thuộc vào loại da và chế phẩm khác nhau mà có tính chất nhiệt khác nhau, chúng đều có tính chất chung là khi gp nhiệt độ cao thì co và biến dạng. Các loại da khác nhau có nhiệt độ co khác nhau, nhiệt độ mà đa số da có thể chịu được mà không bị biến dạng là 98 0C. Nguyễn Gia Phong 16 Luận văn cao học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Viện Dệt may - Da giầy và Thời Trang Da có thể hấp thụ nước từ 20 ÷ 60%.
Khả năng hút nước tốt của da là do trong xơ colagen có chứa nhiều nhóm -NH2 và -COOH có khả năng hút nước. Da có thể chịu được axit vô cơ hữu cơ yếu, khi tăng nồng độ kết hợp nhiệt độ thì da sẽ bị phá hủy. Da sau thuộc bền hơn dưới tác dụng của axit, độ bền với axit của các con da phụ thuộc vào loại da, hóa chất thuộc và cách thuộc chúng. Da kém bền trong môi trường kiềm hơn môi trường axit.
Trong môi trường kiềm kết hợp nhiệt độ da sẽ bị phá hủy. Da chưa thuộc trong dung dịch NaOH 5% đã bị phá hủy, tuy nhiên da sau khi thuộc độ bền với kiềm cao hơn rất nhiều so với da trước khi thuộc. Độ bền với kiềm của các con da phụ thuộc vào loại da, hóa chất thuộc và cách thuộc chúng. Da có độ bền cơ học cao.
Da cật có khả năng chịu mài mòn cao chịu lực kéo tốt. Da cật có độ bền cơ học tốt hơn da váng. Tùy loại da và phương pháp thuộc mà cho tính chất cơ học khác nhau. Da thuộc có khả năng chịu nhiệt độ đến 200°C (cao hơn nhiệt độ này da bị nhiệt phân).
Khi tiếp xúc với khoảng nhiệt độ từ 130 đến 170°C trong hàng chục phút chưa xuất hiện thay đổi nhiều trong cấu trúc da. Để kháng nhiệt tốt hơn, da cần được xử lý đc biệt. Để làm mũ giầy thường sử dụng da cật, có bề mt được hoàn tất nhằm tăng khả năng kháng nước, chịu nhiệt, chịu mài mòn. Thông thường người ta sử dụng da bò thuộc crôm có độ dày lớn từ 0,9 đến 1,5 mm.
Các loại da này có thể là da da cật nguyên (không xẻ) hoc da cật xẻ. Đôi khi người ta dùng các loại da váng (da lớp 2) để làm chi tiết bên ngoài cho một số loại giầy thể thao. Da váng có thể được hoàn tất bằng cách tráng phủ và tạo vân hoa bề mt nhằm tăng độ bền của da, tạo cho da có ngoại hình của da cật. Tuy nhiên các tính chất cơ lý và tính vệ sinh của loại da này kém hơn so với da cật, chúng được sử dụng để làm mũ giầy bảo vệ có chất lượng thấp.
Vải dệt thoi Vải ngày càng được sử dụng nhiều trong công nghiệp sản xuất giầy một Nguyễn Gia Phong 17 Luận văn cao học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Viện Dệt may - Da giầy và Thời Trang phần do nhu cầu về giầy dép ngày càng tăng, trong khi đó sản lượng da thuộc không đủ để đáp ứng nhu cầu này, mt khác do chúng có các tính chất đảm bảo các yêu cầu vệ sinh (hút ẩm, hút nước tốt, thải ẩm tốt, thông hơi, thông khí rất tốt v.), công nghệ và giá thành rẻ hơn so với da thuộc. Giầy được làm từ vải dệt thoi Để làm chi tiết bên ngoài của giầy người ta sử dụng chủ yếu là vải từ xơ sợi bông hoc vải pha bông với xơ sợi tổng hợp như Pe/co. Tuy nhiên vải bông pha có các tính chất tiện nghi bị giảm nên người ta thường dùng vải bông 100 %. H OH CH2OH H OH CH2OH H O H H O H O H OH OH OH H H OH H H OH H H OH H H O H H O O H O CH2OH H OH CH2OH (n-2)/2 H OH Hình 1.
Cấu trúc mạch phân tử xunlulôza Thành phần chính của bông là xenlulô, bông đã làm sạch hoá học có thể coi là xenlulô nguyên chất. Xunlulô là polyme tự nhiên được tạo thành từ các đơn vị mắt xích glucoza. Công thức phân tử của xunlulôza là (C 6H10O5)n, trong đó n là số đơn vị mắt xích và n có thể lên đến hàng nghìn. Ở mạch xunlulôza các vòng glucopyranoza nối với nhau bằng liên kết - 1 - 4 glucozit [12].
Các tính chất của xơ bông về cơ bản là tính chất của xunlulô. Dưới tác dụng của nước, xenlulô không bị hoà tan mà chỉ bị trương nở. Xơ bông khi ngâm trong nước bị trương nở mạnh, tiết diện ngang tăng 45 – 50% nhưng chiều dài chỉ tăng 1 - 2%. Dưới tác dụng của hơi nước độ bền cơ học của xenlulô cũng bị giảm do xenlulô bị thuỷ phân và bị oxi hoá thành oxit xenlulô.
Xenlulô không bị hoà tan Nguyễn Gia Phong 18 Luận văn cao học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Viện Dệt may - Da giầy và Thời Trang trong các dung môi thông thường như este, ete, benzen mà chỉ bị tan trong dung môi đc biệt như dung dịch đồng – amoniac. Xenlulô kém bền dưới tác dụng của axit đc biệt là các axit vô cơ. Dưới tác dụng của axit các liên kết glucozit bị thuỷ phân làm đứt mạch xenlulô.