CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong phần này, tác giả đánh giá tổng quan các quan điểm, trường phái nghiên cứu về tội phạm cùng những nghiên cứu tác động của đặc điểm nhân thân và các yếu tố tính cách tới hành vi phạm tội. Đặc điểm nhân thân có thể bao gồm cả yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội. Trong khi đó nguyên nhân tính cách được xác định là một bộ phận của đặc điểm nhân thân. Nghiên cứu về hành vi phạm tội Phần này sẽ tổng hợp các lý thuyết, trường phái chính giải thích về nguồn gốc, nguyên nhân tội phạm từ trước tới nay trình bày trong các sách giáo khoa, nghiên cứu tổng quan, tổng kết lịch sử trong và ngoài nước như Đào Trí Úc (2000), Nguyễn Xuân Yêm (2001), Lý Văn Quyền và các tác giả (2008), Dương Tuyết Miên và các tác giả (2010), Lê Thị Sơn và Dương Tuyết Miên (2010); Conklin (2012), Williams (2012), Freiling&Harper (2015), Bhowmik (2017), Hass và cộng sự (2017), Siegel (2017), Walsh & Hemmens (2018).
Về cơ bản, các lý thuyết, trường phái đều cố gắng tìm hiểu, phân tích nguồn gốc, bản chất sâu xa, cốt lõi của hành vi phạm tội chứ không chỉ dựa trên hiện tượng, nguyên nhân bề ngoài. Trước thế kỷ 18, nguyên nhân phạm tội thường được xác định có nguồn gốc từ ma quỷ hoặc là bản chất tự nhiên của con người. Từ thế kỷ 18, do sự phát triển của nhiều môn khoa học, nhất là sinh học, nhân chủng học, xã hội học, tâm thần học, thống kê…, các giải thích tội phạm đã chuyển sang nguồn gốc, nguyên nhân do di truyền, thể trạng, tâm lý cũng như môi trường vật chất, môi trường xã hội của của mỗi cá nhân có tính khoa học, khách quan hơn. Hiện nay, mặc dù có sự khác biệt giữa các lý thuyết, quan điểm về nguồn gốc, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, vẫn có một điểm được chấp nhận chung là tồn tại những yếu tố nhất định dễ dẫn tới hành vi phạm tội hơn.
Những yếu tố này có thể kể tên là di truyền kém, khuyết điểm tâm thần, không cân bằng cảm xúc, môi trường, điều kiện sống, giáo dục kém, có đồng bọn phạm tội, nghèo đói, không nhà cửa, nghiện ngập, lạm dụng thuốc… Tất nhiên, cá nhân với những yếu tố này không chắc chắn có hành vi phạm tội trong mọi hoàn cảnh. Luôn có những yếu tố ẩn mà không lý thuyết nào có thể giải thích trọn vẹn, đầy đủ hành vi phạm tội. Trường phái cổ điển và tân cổ điển Được khởi đầu và đại diện bởi học giả Cesare Beccaria người Ý, trường phái cổ luan an 16 điển đã đặt nền móng cho tội phạm học hiện đại với sự nhấn mạnh vào các hiện tượng tâm thần của cá nhân. Hành vi phạm tội là “ý chí tự do” hay lựa chọn riêng của cá nhân để đáp ứng, thỏa mãn những ý thích, nhu cầu riêng.
Để ngăn chặn tội phạm, lý thuyết này chủ trương đưa ra hình phạt đủ nặng (nhưng không cần quá nặng) vượt mức thỏa mãn nhờ phạm tội đem lại. Tuy nhiên, lý thuyết này không tồn tại lâu do bỏ qua điều kiện thực tế và quá nhấn mạnh sự khác biệt cá nhân (ví dụ tội phạm lần đầu và tội phạm nhiều lần được cư xử như nhau nếu có chung đặc điểm cá nhân). Trường phái tân cổ điển phản đối việc áp dụng chung hình phạt cho cùng một loại tội phạm của trường phái cổ điển. Những người theo lý thuyết này khẳng định những nhóm tội phạm như trẻ vị thành niên, người thiểu năng trí tuệ, mất trí nên được đối xử khoan dung do họ không chín chắn về tâm thần và không có khả năng phân biệt tốt, xấu.
Trường phái nhân chủng học và sinh học Ban đầu, lý thuyết này dựa trên quan niệm có mối liên hệ giữa đặc điểm sinh học cơ thể với các dạng hành vi tâm lý và xã hội. Nó cho rằng nguồn gốc sinh học hay thân xác sinh học chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội. Theo đó, một số cá nhân sinh ra đã mang đặc điểm sinh học trở thành tội phạm. Lý thuyết này cho rằng có những bộ phận nhất định của não bộ điều khiển hoạt động, hành vi của con người.
Những bộ phận này nếu có sai lệch sẽ dẫn tới hành vi phạm tội và thể hiện ở kích thước, hình dạng của vỏ não vào hộp sọ. Gambattista Della Porta, Franz Joseph Gall, Cesare Lambroso, Della Porta, Franz Joseph Gall, Earnest Hooton, William Sheldon là những đại diện tiêu biểu của trường phái lý thuyết này trong thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 20. Họ cho rằng tội phạm thường có những đặc điểm sinh học nhất định, ví dụ như có biểu hiện lại giống, thể hiện ở những đặc điểm sinh học hoang dã như tai vểnh, tóc dày, râu thưa, xương hàm bạnh, cằm vuông và nhô, xương má lớn, hộp sọ nhỏ; có khiếm khuyết trong trí não biểu hiện qua hình dáng, kích thước khác thường của hộp sọ; có khổ người lớn với nhiều cơ bắp, xương, thân hình và bàn tay to. Theo lý thuyết này, những người có đặc điểm sinh học của tội phạm chắc chắn sẽ trở thành tội phạm nếu điều kiện sống của họ không thuận lợi.
Sang thế kỷ 20, lý thuyết này thay vì giải thích hành vi phạm tội chỉ từ đặc điểm giải phẫu đã dựa trên một nền tảng rộng hơn về thể chất, di truyền và thiên hướng gia đình. Những đại diện tiêu biểu là Charles Goring, Johannes Lange (về di truyền sinh học), Adolf Lanz, Franz Exner (về thiên hướng gia đình). Bằng cách nghiên cứu các trường hợp song sinh cùng trứng (hoàn toàn giống nhau về gen di truyền), song sinh khác trứng (không hoàn toàn giống nhau về gen di truyền) và anh em bình thường, luan an 17 Charles Goring, Johannes Lange đã đi đến kết luận có xu hướng phạm tội nhất định do ảnh hưởng của gen di truyền. Trong khi đó Adolf Lenz, Franz Exner cho rằng nền tảng, lịch sử gia đình (có bệnh lý tâm thần, động kinh, nổi loạn, nghiện rượu, tự tử) có nguy cơ cao chuyển sang thế hệ sau và làm cho thế hệ sau gặp khó khăn khi kiểm soát hành vi, thể hiện ở những hiện tượng như rối loạn tâm thần, phạm tội, mãi dâm, lêu lổng, gây gổ, ngang bướng, không hòa nhập, đồng tính, hư hỏng, nghiện ngập.
Để tránh ảnh hưởng của thiên hướng gia đình, giải pháp được đưa ra là tạo một môi trường thuận lợi trong đó không có va chạm giữa đặc điểm di truyền và thiên hướng gia đình với nhịp sống của cá nhân. Hơn nữa, những thiên hướng kế thừa khi kết hợp với môi trường sống không thuận lợi sẽ dễ dẫn tới hành vi phạm tội hơn. Những thiên hướng kế thừa này là gánh nặng đè lên các cá nhân, làm họ dễ phạm tội, dễ lặp lại hành vi phạm tội và sớm có hành vi phạm tội. Hiện nay, lý thuyết sinh học của những thế kỷ trước đã được chứng minh không đúng và có tính phân biệt chủng tộc.
Tuy nhiên, lý thuyết này vẫn được tiếp tục từ góc độ nghiên cứu ảnh hưởng của gen di truyền tới cấu trúc não, từ đó dẫn tới tính hung hăng và thù địch vốn là nguồn gốc của hành vi tội phạm cũng như các ảnh hưởng của nền tảng, kế thừa từ gia đình. Hướng nghiên cứu tác động của các bệnh lý tâm thần cũng là một bộ phận của trường phái này. Trường phái tội phạm học xã hội Dựa trên các lý thuyết xã hội học khởi xướng bởi Emile Durkheim, trường phái về tội phạm học xã hội được sáng lập bởi Enrico Ferri và sau đó có các đại diện tiêu biểu là Frank Tannenbaum (lý thuyết gán nhãn), Travis Hirshi (lý thuyết kiểm soát xã hội), William Thomas, Edwin Sutherland, Von Hentig (lý thuyết phân biệt cộng đồng), Robert K. Enrico Ferri cho rằng yếu tố tâm lý - xã hội là một trong ba yếu tố quan trọng (2 yếu tố còn lại là vật lý/địa lý và nhân chủng) dẫn đến phạm tội và thể hiện ở mật độ dân số; quan điểm, tính cách và tôn giáo của cộng đồng; điều kiện gia đình; hệ thống giáo dục; điều kiện kinh tế, chính trị, hành chính công, tư pháp… Về cơ bản, trường phái lý thuyết này dựa trên quan điểm điều kiện môi trường không thuận lợi ảnh hưởng tới con người, buộc con người phải phạm tội.
Ví dụ UNODC (2010) đã thống kê đi đến kết luận điều kiện, nguyên nhân, đặc điểm, tính chất của tội phạm có sự khác biệt căn bản giữa các nước thu nhập cao, thu nhập trung bình và thu nhập thấp. Cụ thể, môi trường kinh tế - xã hội, giao tiếp giữa các thành viên của xã hội…, nhất là trong giai đoạn trước khi trưởng thành góp phần hình thành đức tin, thái độ, quan niệm, giá trị sống… của mỗi cá nhân, vì thế đóng một vai trò quan trọng quyết luan an 18 định xu hướng phạm tội của con người. Con người có xu hướng suy nghĩ, hành động theo chuẩn mực của thế giới, môi trường mà họ cho rằng họ thuộc về. Hành vi phạm tội cũng được các cá nhân chứng kiến, tiếp thu, học và làm theo từ chính môi trường xung quanh họ, nhất là từ các thành viên trong gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng… Vì thế, môi trường xã hội, cộng đồng, tập thể với các chuẩn mực, quan điểm, giá trị lệch lạc sẽ tạo nên các cá nhân dễ có nguy cơ phạm tội hoặc vi phạm các chuẩn mực, quan điểm, giá trị được chấp nhận rộng rãi chung.
Đồng thời, các cá nhân thiếu sự gắn bó, cam kết, liên quan và niềm tin vào xã hội cũng dễ trở thành người phạm tội. Ngoài ra, con người lớn lên trong xã hội với nhiều sức ép phải thành công hoặc đo giá trị con người bằng vị trí xã hội, tài sản, tiền bạc… (ví dụ các nước tư bản cạnh tranh cao như Hoa Kỳ) cũng có nhiều khả năng lựa chọn các hoạt động phi pháp để đạt được sự công nhận của cộng đồng. Lý thuyết về tội phạm học xã hội không giải thích được những trường hợp hoặc một số giai đoạn lịch sử những người sống trong điều kiện xã hội kém thuận lợi không trở thành tội phạm. Việc xác định đối tượng cá nhân nào nhạy cảm với môi trường xã hội xấu cũng không được giải đáp bởi lý thuyết này.
Trường phái phân tích loại hình tội phạm Trường phái này dựa trên thực nghiệm để tìm ra những đặc trưng điển hình của từng loại hình tội phạm, về cơ bản mang tính nghiệp vụ, thống kê và dựa trên nhiều môn, lý thuyết khoa học khác nhau để phục vụ quá trình phân tích.