CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỦY ĐIỆN TÍCH NĂNG VÀ SỰ LÀM VIỆC CỦA CÔNG TRÌNH ĐẦU MỐI TRONG THỦY ĐIỆN TÍCH NĂNG 1. TỔNG QUAN VỀ THỦY ĐIỆN TÍCH NĂNG 1. Giới thiệu chung Tại Việt Nam, theo quy hoạch phát triển điện lực Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 có xét đến triển vọng năm 2030 (gọi tắt là quy hoạch điện VII) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2020 hàng năm nhu cầu điện dự kiến tăng lên khoảng 17%, sản lượng điện năng cung cấp dự kiến từ 194-210 TWh năm 2015, 330-362 TWh năm 2020 và 695-834 TWh năm 2030 trong trường hợp kịch bản cơ sở. Nhu cầu điện tương ứng mỗi năm là 42.7GW Xét về sơ đồ phát điện, dự kiến tiềm năng thủy điện cũng như khả năng phát điện bằng khí sẽ được khai thác hoàn toàn trong một vài năm tới do đã đạt đến giới hạn cung cấp.
Rồi những nguồn năng lượng sử dụng nhiên liệu cũng sẽ bị hạn chế. Mặt khác, tương ứng với sự phát triển của nền kinh tế, nhìn vào biểu đồ phụ tải quan sát thấy có sự chuyển đổi đỉnh phụ tải từ đêm sang ngày. Thêm vào đó, nhu cầu đỉnh ngày cũng tăng lên nhanh chóng làm cho khoảng cách giữa nhu cầu đỉnh và nhu cầu thấp điểm tăng lên gấp đôi. Do đó hệ thống điện Việt Nam thực sự cần công suất cung cấp điện năng phủ đỉnh.
Khi trong hệ thống điện có nhiều nhà máy điện gồm các loại khác nhau, chế độ vận hành của các nhà máy tại từng thời điểm cũng khác nhau. Để tận dụng các nguồn điện giá rẻ, và điều chỉnh biều đồ phụ tải ngày đêm thì thủy điện tích năng (Pumped storage power plant gọi tắt là PSPP) là phương án thay thế có tính kinh tế tốt nhất để đáp ứng nhu cầu cấp điện phủ đỉnh của hệ thống điện. Các nhà máy thủy điện thuộc hệ thống trong mùa mưa thường sẽ phát đầy tải. Tương tự các hồ chứa thủy lợi, khi lượng nước về lớn thì có thể lượng nước này 4 sẽ phải xả, để tận dụng việc xả thừa này thì các tổ máy sẽ được huy động.
Lượng công suất huy động để tránh việc xả thừa này sẽ đảm nhận công suất cần thiết để vận hành nhà máy thủy điện tích năng ở chế độ tích năng. Khi đến giờ cao điểm thì nhà máy thủy điện tích năng sẽ được huy động để đáp ứng hệ thống. Vì vậy, khi có các nhà máy thủy điện tích năng sẽ làm cho hệ thống vận hành hiệu quả hơn. Theo quy hoạch điện VII đã được Thủ tướng chính phủ chinh thức phê duyệt tại quyết định số 1208 tháng 7/2011, dự kiến sẽ xây dựng các công trình thủy điện tích năng có tổng công suất 2100MW ở hệ thống điện miền Bắc và các công trình có tổng công suất 3400MW ở hệ thống điện miền Nam.
Bằng phương pháp sang lọc đặc biệt đã lựa chọn ra ba vị trí tuyến công trình thủy điện tích năng tối ưu nhất từ 38 vị trí tuyến công trình thủy điện tích năng trên toàn quốc trên cơ sở xem xét tính kinh tế và mức độ ảnh hưởng đến môi trường và xã hội trong Báo cáo nghiên cứu quy hoạch thủy điện tích năng toàn quốc do TEPCO thực hiện năm 2004 và 2005. Theo yêu cầu của Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN), báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đã được phối hợp thực hiện giữa EVN và TEPCO cho tuyến công trình Phù Yên Đông – Sơn La ở miền Bắc và tuyến Bắc Ái – Ninh Thuận ở miền Nam, đây là hai vị trí tuyến công trình có ưu thế nhất trong báo cáo quy hoạch thủy điện tích năng toàn quốc. Đến thời điểm hiện tại thì tại nước ta chưa có bất kỳ nhà máy thủy điện tích năng nào được lắp đặt. Nhưng dự kiến tổ máy đầu tiên sẽ vận hành vào năm 2020.
Tình hình phát triển thủy điện tích năng trên thế giới. Thụy Sỹ là quốc qia đầu tiên giới thiệu công nghệ thủy điện tích năng trên thế giới, nhà máy Schaffhausen với công suất 1500KW được vận hành vào năm 1882. Hiện nay đã có hơn 130GW công suất điện từ các nhà máy thủy điện tích năng được vận hành trên thế giới, xấp xỉ khoảng 3% công suất điện toàn cầu. Ở các nước phát triển trên thế giới, giải pháp xây dựng thủy điện tích năng mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Các trạm thủy điện tích năng đóng góp vai trò trong việc cân bằng công suất hệ thống điện, tiết kiệm nhiên liệu cho các trạm nhiệt điện, 5 điện nguyên tử và ít gây tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên. Dưới đây là thống kê các trạm thủy điện tích năng lớn trên thế giới: Bảng 1.1 Thống kê các TTĐ tích năng lớn trên thế giới [4] TT Tên đập Quốc gia Công suất (MW) 1 Bath County USA 2772 2 Kannagawa Japan 2700 3 Pushihe China 2515 4 Guangzhou China 2400 5 Huizhou China 2400 6 Dniester Ukraine 2268 7 Grande Dixence Switzerland 2069 8 Minghu Taiwan 2000 9 Mt. Hope USA 1932 10 Tamahara Japan 1800 11 Zhuhai China 1800 12 Dinorwig United Kingdom 1728 13 Markersbach Germany 1602 14 Kazunogawa Japan 1600 15 Kruonis Lithuania 1600 16 Shin Takasegawa Japan 1600 17 Castaic USA 1566 18 Presenzano Italy 1530 19 Tehri India India 1500 20 Piastra Edolo Italy 1495 1. Đặc điểm và chức năng của thủy điện tích năng 1.
Đặc điểm công trình thủy điện tích năng 6 Hình 1.1 Sơ đồ công trình tuyến năng lượng TTĐ tích năng Thủy điện tích năng là loại thủy điện kiểu bơm tích lũy, nhà máy bơm nước từ hồ dưới lên hồ trên trong thời gian thấp điểm khi nhu cầu điện năng thấp bằng cách dùng điện năng phát từ các nhà máy điện khác hoặc từ hệ thống điện, sau đó tận dụng lượng nước đó để phát điện trong thời gian có nhu cầu đỉnh. Khi nước đã được tích vào các hồ, công trình có thể tận dụng nhiều lần, chỉ bổ sung lượng nước mất đi do bốc hơi, thấm, mất nước trên đường dẫn. Theo đó công trình thủy điện tích năng có thể luôn phát điện ở công suất lắp máy bất kể là mùa khô hay mùa mưa. Nhà máy thủy điện tích năng với các tổ máy thủy lực được đặt ở phía hồ dưới để tận dụng chiều cao cột áp do độ chênh lệch giữa hai hồ.
Hai hồ này được nối với nhau bằng hệ thống đường dẫn và nhà máy thủy điện – trạm bơm. Tùy theo trường hợp cụ thể mà sơ đồ công trình thủy điện tích năng có thể khác nhau. Có 3 sơ đồ lắp đặt thiết bị cho thủy điện tích năng: sơ đồ 4 máy (độc lập), sơ đồ 3 máy (song song), sơ đồ 2 máy (thuận nghịch). + Sơ đồ 4 máy (độc lập): gồm tuabin, máy phát, máy bơm và động cơ điện bố trí thành các tổ máy độc lập.
Với sơ đồ này các thiết bị có thể đặt chung vào một nhà máy, chung đường dẫn hoặc có thể nhà máy thủy điện đặt ở một vị trí khác để tận dụng cột nước, còn nhà máy bơm đặt ở một vị trí có cột nước bơm lên thấp nhất. 7 + Sơ đồ 3 máy (song song): gồm tuabin, máy bơm, động cơ điện thuận nghịch (động cơ – máy phát) bố trí kết hợp vào một tổ máy. + Sơ đồ 2 máy (thuận nghịch): gồm tuabin – bơm, động cơ – máy phát bố trí trong một tổ máy. Các loại tuabin này có thể làm việc theo hai chức năng máy bơm và tuabin khi thay đổi chiều và máy phát cũng làm việc với chức năng động cơ điện hoặc máy phát tương ứng.2 Toàn cảnh TTĐ tích năng Goldisthal (Đức) 1.
Các dạng thủy điện tích năng Có hai dạng thủy điện tích năng cơ bản: - Thủy điện tích năng thuần túy: Bao gồm hai hồ chứa, nước ở hồ trên được bơm trực tiếp từ hồ dưới qua tuabin – bơm và không có dòng chảy tự nhiên vào hồ. - Thủy điện tích năng hỗn hợp: Bao gồm hai hồ chứa trên cùng một dòng sông. Điện năng phát ra phụ thuộc vào dòng chảy tự nhiên vào hồ và lượng nước bơm lên hồ trên. Nguyên lý vận hành của nhà máy thủy điện tích năng Vào giờ cao điểm của phụ tải, nhà máy thủy điện tích năng sẽ lấy nước từ hồ trên, qua cửa nhận nước rồi vào đường ống áp lực, sau đó qua tuabin và làm quay máy phát điện để sản xuất điện năng vào hệ thống.
Nước sau khi qua tổ máy sẽ vào kênh xả, dẫn vào hồ dưới và được lưu trữ tại đây. Vào giờ thấp điểm của phụ tải, máy phát sẽ lấy năng lượng điện từ lưới, vận hành ở chế độ động cơ làm quay tuabin (chế độ bơm) để cấp nước lên hồ trên. Chức năng của thủy điện tích năng Công trình thủy điện tích năng tích năng lượng nước khi nhu cầu điện thấp vào ban đêm và sử dụng nguồn năng lượng tích được này để đáp ứng nhu cầu phủ đỉnh. Do đó nó có thể điều chỉnh cân bằng giữa cung cấp – nhu cầu và giảm đi khoảng cách giữa nhu cầu đỉnh và nhu cầu thấp điểm.
Công trình thủy điện tích năng đóng một vao trò cân bằng tiêu thụ điện năng thay đổi và có thể coi là một kiểu quản lý nhu cầu. Ở các nước đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nhu cầu dùng điện là rất lớn. Trong biểu đồ phụ tải ngày đêm có sự chênh lệch lớn về công suất giữa thời đoạn cao điểm và thấp điểm. Ở nước ta các nhà máy điện hạt nhân bắt đầu được triển khai xây dựng, nó sẽ đáp ứng được phần lớn phụ tải trong ngày.
Tuy nhiên sẽ xảy ra tình trạng thừa điện vào giờ thấp điểm. Đối với nhà máy điện hạt nhân và nhà máy nhiệt điện thì việc điểu chỉnh tổ máy là rất khó khăn và không an toàn. Do đó trong biểu đồ phụ tải thì nó làm việc ở phần gốc và phần thân. Việc cho các trạm thủy điện làm việc ở phần đỉnh của biểu đồ phụ tải là rất hợp lý, tuy nhiên trong các giai đoạn tiếp theo việc khai thác năng lượng thủy điện cũng sẽ cạn kiệt.
Do đó xây dựng các trạm thủy điện tích năng là rất cần thiết và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trạm thủy điện tích năng mua điện để bơm nước trong giờ thấp điểm và phát điện vào giờ cao điểm sẽ giúp cân bằng năng lượng trong hệ thống điện. Do vai trò làm cân bằng phụ tải của thủy điện tích năng, các công trình phát điện khác có thể vận hành liên tục ở công suất không đổi và hiệu quả sử dụng nhiên 9 liệu của các công trình đó sẽ tăng lên do tần suất khởi động – dừng trong vận hành giảm đi.