MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong số các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa thì bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh nội tiết chuyển hóa thường gặp nhất và là một bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất trên toàn cầu. Bệnh ĐTĐ là một trong những vấn đề sức khỏe của thế kỷ 21 [47]. Tổ chức y tế thế giới (WHO) dự đoán bệnh ĐTĐ sẽ là một trong những vấn đề sức khỏe chính trong thế kỷ 21 và ước tính 80% các ca bệnh mới sẽ là ở những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam [3].
Năm 2015, theo báo cáo của Liên đoàn đái tháo đường quốc tế (IDF), trên toàn cầu ước tính có khoảng 8,8% dân số trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ. Tại Việt Nam, năm 2015 có khoảng 3,5 triệu người mắc bệnh ĐTĐ chiếm tỷ lệ 5,6%. Việt Nam đứng trong top 5 nước có số lượng bị mắc ĐTĐ cao nhất trong khu vực Tây Thái Bình Dương. Năm 2017, IDF ước tính, 1trong 11 người trưởng thành (20-79 tuổi) bị ĐTĐ (425 triệu người).
1 trong 2 người trưởng thành (20-79 tuổi) bị ĐTĐ không được chẩn đoán (trên 212 triệu người). IDF ước tính, năm 2045, một trong 10 người trưởng thành (20-79 tuổi) sẽ bị ĐTĐ (629 triệu người); Chi phí y tế liên quan đến ĐTĐ sẽ vượt quá 776 tỷ USD. Những con số trên chỉ là ước tính, thực sự chúng ta còn chưa biết số bệnh nhân hiện nay chính xác là bao nhiêu. Bệnh có thể diễn biến thầm lặng trong vòng 5-10 năm, có tới 65% bệnh nhân mắc bệnh nhưng không được phát hiện.
Tuy nhiên, bệnh ĐTĐ có thể được ngăn chặn nếu cải thiện được các yếu tố nguy cơ gây mắc bệnh [1]. Những người bị bệnh ĐTĐ cũng có thể sống lâu và khỏe mạnh nếu được phát hiện, quản lý và chăm sóc tốt tình trạng bệnh của mình. Do vậy, việc đánh giá đúng tình hình thực trạng bệnh tại địa phương, sự hiểu biết của người dân về bệnh 2 ĐTĐ để có chiến lược, biện pháp phòng chống bệnh một cách có hiệu quả là hết sức cần thiết. Ngày 2 tháng 9 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình Sức khoẻ Việt Nam tại quyết định Số 1092/QĐ-TTg, đặt mục tiêu đến năm 2025, sẽ có ít nhất 50% bệnh nhân ĐTĐ được phát hiện bệnh và tiếp tục tăng lên 70% vào năm 2030, đồng thời tăng tỉ lệ bệnh nhân được quản lý tại các cơ sở y tế lên 30-40% trong 10 năm tới.
Gia Lai là một tỉnh miền núi điều kiện kinh tế, xã hội còn thấp, việc tiếp cận các thông tin bệnh tật còn hạn chế, người dân chưa có điều kiện để tìm hiểu về bệnh ĐTĐ nhiều. Số lượng bệnh nhân tại cộng đồng chưa được phát hiện là rất lớn so với số người đã được chẩn đoán và điều trị, nhiều người được phát hiện bệnh chưa từng nghĩ rằng mình có thể mắc bệnh ĐTĐ. Thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai nói riêng cũng không nằm ngoài hiện trạng bệnh và các yếu tố nguy cơ bệnh ĐTĐ đang ngày càng có chiều hướng gia tăng, số lượng bệnh nhân mắc bệnh tương đối nhiều, tuy nhiên chưa có nghiên cứu khoa học nào để đánh giá tình hình mắc bệnh và các yếu tố nguy cơ liên quan tại địa bàn. Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường tại Thành phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai năm 2019 - 2020”.
Mục tiêu của đề tài - Xác định thực trạng mắc bệnh đái tháo đường trên các bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường đến khám và điều trị tại Trung tâm y tế thành phố Pleiku. - Xác định tỷ lệ một số biến chứng xảy ra trên các bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường. - Điều tra, tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến thực trạng mắc bệnh đái tháo đường và đánh giá hiểu biết của bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường về bệnh đái tháo đường. Ý nghĩa của đề tài 3.
Ý nghĩa khoa học Cung cấp một số thông số thống kê khoa học về thực trạng bệnh ĐTĐ bao gồm đặc điểm phân bố, một số biến chứng, một số yếu tố liên quan và đánh giá hiểu biết về bệnh ĐTĐ của ĐTNC tại địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia lai năm 2019 – 2020, làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo. Ý nghĩa thực tiễn Mô tả thực trạng bệnh ĐTĐ tại địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia lai năm 2019– 2020 góp phần nâng cao hiểu biết về hiện trạng bệnh ĐTĐ ở địa phương. Từ đó đề xuất một số biện pháp phòng chống bệnh ĐTĐ phù hợp hiệu quả. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
SƠ LƯỢC VỀ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 1. Vị trí, cấu tạo và chức năng của tuyến Tụy 1. Vị trí của Tụy Tụy là một cơ quan sau phúc mạc trãi dài từ độ cong bên trong của tá tràng đi đến đến cuống lách, nằm cắt ngang trước cột sống, chếch lên trên sang trái. Phần dài nhất của tuyến tụy nằm dài phía sau dạ dày, đuôi của tuyến tụy nằm liền kề với lá lách.
Phần lớn tụy ở tầng trên mạc treo đại tràng ngang, chỉ có một phần nhỏ ở dưới mạc treo [24]. Cấu tạo của Tụy Cấu tạo của tụy gồm có ba phần: đầu tụy, thân tụy và đuôi tụy. Đầu tụy nằm sát đoạn tá tràng D2, đuôi tụy thì kéo dài đến sát nách. Ống tụy là một ống nằm dọc suốt chiều dài của tụy có chỗ nối vào tá tràng gọi là bóng Vater dẫn lưu dịch tụy đổ vào đoạn D2 của tá tràng.
Ống mật chủ kết hợp với ống tụy gần bóng Vater còn cơ vòng Oddi là nơi đổ ra của ống tụy và ống túi mật. Tụy được cung cấp máu bởi các động mạch tá tụy là nhánh của động mạch mạc treo tràng trên. Tĩnh mạch đưa máu đổ về các tĩnh mạch lách rồi đổ vào tĩnh mạch cửa. Tĩnh mạch cửa được hợp thành bởi sự hợp thành của hai tĩnh mạch là tĩnh mạch mạc treo tràng trên và tĩnh mạch lách.
Đối với một số người thì tĩnh mạch mạc treo tràng dưới cũng đổ vào tĩnh mạch lách, phía sau tuyến tụy [13], [24]. Chức năng của Tụy Tuyến tụy sản xuất dịch tiêu hóa có khả năng tiêu hóa gần như tất cả các thành phần thức ăn gồm tụy ngoại tiết và tụy nội tiết: 5 Hình 1.1 Cấu tạo của tuyến tụy Tụy ngoại tiết Tụy được bao bọc bởi bao tụy có tác dụng phân chia tụy thành các tiểu thùy. Nhu mô của tụy được cấu tạo bởi các tế bào tụy ngoại tiết chứa đựng rất nhiều các hạt nhỏ chứa enzyme tiêu hóa dưới dạng tiền chất chủ yếu là trypsinogen, chymotrysinogen, lipase tụy và amylase [13], [24]. Tụy nội tiết Hình 1.2 Cấu tạo tụy nội tiết Nhu mô của tụy nội tiết là các nhóm nhỏ tế bào gọi là tiểu đảo tụy hay tiểu đảo Langerhans gồm từ 1-2 triệu đảo, là những tế bào tụ thành từng đám, chiếm 1g tổ chức tụy, thường ở gần mạch máu và đổ vào tĩnh mạch cửa.
Các tiểu đảo này là phần nội tiết của tuyến tụy có chức năng tiết các hormone quan trọng là Insulin có tác dụng làm giảm đường huyết; glucagon có tác dụng làm tăng đường huyết và tăng cường phân giải glycogen thành 6 glucose; còn các hormone khác như Lipocain có tác dụng oxy hóa các chất đặc biệt là axit béo. Nếu nhiều mỡ được đưa về gan mà không được oxy hóa có thể tích tụ gây nhiễm mỡ gan. Ba loại tế bào chính của tiểu đảo tụy là tế bào alpha, tế bào beta, và tế bào delta. Trong ba loại này thì tế bào beta chiếm số lượng nhiều nhất và sản xuất Insulin.
Các tế bào alpha sản xuất glucagon và tế bào delta sản xuất somatostatin có tác dụng làm giảm nồng độ của glucagon và Insulin trong máu [13], [24]. Cấu tạo và chức năng của Isulin 1. Cấu tạo Insulin Insulin là một polypeptide bao gồm một chuỗi A với 21 amino acid và một chuỗi B với 30 amino acid, có một cầu nối disulfide trong chuỗi A và 2 cầu nối disulfide nối giữa hai chuỗi A và B. Gene mã hóa insulin nằm trên nhiễm sắc thể số 11 [27].
Chức năng của Insulin Hình 1.3 Vai trò của Insulin Insulin có tác dụng lên chuyển hóa lipid, điều hòa bài tiết và đặc biệt là tác dụng lên chuyển hóa glucid, là hormon duy nhất có tác dụng giảm đường máu với cơ chế cụ thể như sau: Tăng tính thấm glucose qua màng tế bào, đồng thời cũng làm tăng sự thẩm thấu của các ion K+ và phosphate vô cơ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự 7 phosphoryl hóa và sử dụng glucose. Cần chú ý rằng, có một số tổ chức không nhạy cảm với insulin, do vậy ở những tổ chức này insulin không làm thay đổi nồng độ glucose trong tế bào (như tổ chức thần kinh, bạch cầu, phổi, thận và nhất là gan). Ở gan, glucose thấm qua màng tế bào một cách tự do dù có hay không có mặt insulin. Tăng thoái hóa glucose ở cơ vì màng tế bào cơ bình thường chỉ cho glucose khuếch tán qua rất ít trừ khi có Insulin.
Thường sau ăn vài giờ, khi nồng độ glucose máu tăng, tăng tiết Insulin làm tế bào cơ sử dụng nhiều glucose. Khi lao động nặng hoặc luyện tập thì tế bào cơ cũng có thể sử dụng 1 lượng lớn glucose mà ko cần 1 lượng Insulin tương ứng. Tăng dự trữ glycogen ở cơ: nếu sau bữa ăn mà cơ ko vận động thì glucose vẫn chuyển vào tế bào cơ và tích trữ dưới dạng glycogen. Tăng thu nhập, dự trữ, sử dụng glucose ở gan: Hầu hết lượng glucose hấp thu từ ruột vào gan chuyển thành glycogen, nếu dư thừa sẽ chuyển thành acid béo vận chuyển đến mô mỡ dưới dạng lipoprotein cholesterol tỷ trọng thấp và lắng đọng dưới các mô mỡ dự trữ ức chế quá trình tạo đường mới: Insulin làm giảm hoạt tính và số lượng các enzym tham gia tạo đường mới, kích thích sự tổng hợp glucosekinase ở gan, ức chế tổng hợp một số enzyme xúc tác sự tân tạo đường như pyruvat carboxylase… giảm giải phóng acid amin từ cơ và mô khác vào gan do đó giảm nguyên liệu của quá trình tạo đường mới.
Giảm tác dụng của glucose 6 – phosphatase. Ức chế phân hủy lipid, cho nên tăng cường đốt cháy glucose [27], [39]. Bệnh đái tháo đường 1. Định nghĩa bệnh đái tháo đường Bệnh ĐTĐ được Tổ chức Y tế thế giới (WHO – World Heath Orgnization) định nghĩa là một nhóm các bệnh chuyển hóa đặc trưng bởi tăng 8 glucose máu mạn tính do hậu quả của thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của Insulin hoặc kết hợp cả hai.