Chương 1: Giới thiệu chung Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận Chương 3: Giới thiệu đối tượng nghiên cứu Chương 4: Thiết kế thực nghiệm cho độ sạch của tạp chất Chương 5: Cải tiến và kết quả Chương 6: Kết luận và kiến nghị 3 CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 2.1 Thiết kế thực nghiệm Trong kỹ thuật, có hai chức năng nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu sáng tạo và nghiên cứu thực nghiệm: _ Nghiên cứu sáng tạo (Creative research) là các nghiên cứu nhằm phát triển các lý thuyết mới, quá trình mới hay thiết kế các sản phẩm mới. _ Nghiên cứu thực nghiệm (Experimental research) là dạng nghiên cứu về mối quan hệ “Nguyên nhân - kết quả”. Trước hết, nhà nghiên cứu xác định các thông số (hay các biến) cần và có thể quan tâm. Sau đó, tiến hành các thí nghiệm nhằm quan sát, đánh giá xem mục tiêu (còn gọi là biến phụ thuộc, thông số đầu ra) thay đổi như thế nào khi một hay nhiều biến khác (gọi là biến độc lập hay thông số đầu vào) được thay đổi.
Nghiên cứu thực nghiệm đóng vai trò quan trọng trong khoa học kỹ thuật. Các quá trình công nghệ và kỹ thuật thường rất phức tạp, bao gồm một tập hợp lớn các yếu tố ảnh hưởng và nhiều chỉ tiêu đánh giá khác nhau. Trong đa số các hệ thống hay quá trình kỹ thuật, các mối quan hệ vào - ra thường không thể mô tả được một cách đầy đủ bằng các hàm lý thuyết. Người ta thường mô hình hóa các quá trình, đối tượng cần nghiên cứu như một hộp đen (Black - box) như Hình 2.1 Sơ đồ một quá trình, hệ thống hay đối tượng nghiên cứu 4 Trên Hình 2.1, các tín hiệu đầu vào được sơ đồ hóa thành 3 nhóm: đối tượng đầu vào, các tham số (yếu tố, nhân tố) có thể điều khiển được và các yếu tố không điều khiển được.
Chúng ta không biết và không cần quan tâm những gì xảy ra bên trong hộp đen, nghĩa là cách thức các thông số nói trên tác động với nhau như thế nào. Cái chúng ta quan tâm là làm sao để xác lập được quan hệ vào - ra, để từ đó có thể điều khiển được quá trình hay nhận được thông số đầu ra của đối tượng theo ý muốn. Vấn đề này có thể được giải quyết bằng thực nghiệm. [1] Thiết kế thực nghiệm được sử dụng như một công cụ hữu ích nhằm khảo sát bất kỳ một ứng xử (Response) của một hệ thống, một quá trình hay một đối tượng nào.
Mô hình quan hệ vào - ra đặc biệt hữu dụng cho nhiều mục đích khác nhau, chẳng hạn để lựa chọn các tập thông số tối ưu của quá trình hay của sản phẩm cần thiết kế; giảm thiểu các ảnh hưởng của các thông số không có lợi; xác định và giảm thiểu các đặc tính nhạy với tác động môi trường để bền vững hóa quá trình hay sản phẩm v.v… Một kế hoạch thực nghiệm được thiết kế tốt sẽ cho phép nhà nghiên cứu tiến hành số lượng thí nghiệm ít nhất, tốn kém ít chi phí, mất thời gian, công sức ít nhất nhưng lại thu được nhiều thông tin nhất về quá trình, đối tượng nghiên cứu. Ba nguyên tắc căn bản nhất của thiết kế thực nghiệm bao gồm: nguyên tắc ngẫu nhiên, nguyên tắc lặp và nguyên tắc khối. Các nguyên tắc này được ứng dụng để làm giảm hoặc thậm chí là khử bỏ các sai số của thực nghiệm. Một vấn đề quan trọng cần lưu ý rằng sai số thực nghiệm có thể dẫn đến các quyết định sai hoặc trong một số trường hợp, gây sai lệch trong việc xác định ảnh hưởng của các thông số quan trọng.
[1] _ Nguyên tắc ngẫu nhiên (Principle of Randomization) được áp dụng nhằm hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố gây nhiễu. Theo nguyên tắc này, thứ tự thay đổi giá trị các thông số thực nghiệm, cách bố trí thực nghiệm, thứ tự tiến hành từng thực nghiệm phải được tiến hành theo một thứ tự ngẫu nhiên. Bằng cách sử dụng nguyên tắc ngẫu nhiên, chúng ta đã “bình quân hóa” và do đó, làm giảm ảnh hưởng xấu của các sai số đo, các yếu tố nhiễu. _ Nguyên tắc lặp lại (Principle of Replication), mỗi thực nghiệm cần được thực hiện ít nhất nhiều hơn một lần.
Cũng cần lưu ý phân biệt hành động lặp lại (Replication) với việc đo lại (Repeat measurement) một vài thông số nào đó nhiều lần. Đo lại nhiều 5 lần nhằm giảm sai số đo chứ không làm giảm ảnh hưởng các sai số nhiễu đến kết quả thực nghiệm. _ Nguyên tắc tạo khối (Principle of Blocking) thường được sử dụng khi số lượng thực nghiệm nhiều. Khi đó, ta cần chia thành nhiều khối thực nghiệm.
Khối là một tập hợp các thí nghiệm có chung một hay một vài đặc tính nào đó. Trong mỗi khối, các thực nghiệm được thiết kế tuân thủ theo nguyên tắc lặp và nguyên tắc ngẫu nhiên. Nói cách khác, thứ tự các thực nghiệm trong một khối được xáo trộn ngẫu nhiên; đồng thời, các thực nghiệm trong khối được lặp lại và xử lý thống kê như trong một kế hoạch riêng. Trong thực tế kỹ thuật, thường tiến hành ba loại thực nghiệm sau: Thực nghiệm sàng lọc, thực nghiệm so sánh và thực nghiệm cải thiện quá trình.
[1] _ Thực nghiệm sàng lọc (Screening Experiment) là thực nghiệm được tiến hành nhằm các mục đích sau: - Xác định đâu là các yếu tố ảnh hưởng chính đến đối tượng hay quá trình cần khảo sát; - Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố; - Đánh giá mức độ ảnh hưởng tương tác giữa các yếu tố. _ Thực nghiệm so sánh (Comparative Expriment) thường được thực hiện để so sánh và đánh giá sai khác giữa hai nhóm đối tượng mẫu hay hai quá trình nhằm trả lời câu hỏi: Có hay không sự sai khác giữa các nhóm đối tượng hay quá trình? Câu hỏi này thường đặt ra khi kiểm chứng một sản phẩm hay một quá trình mới. _ Thực nghiệm tối ưu hóa nhằm tìm kiếm tập xác lập các yếu tố đầu vào sao cho đạt được giá trị tối ưu của đầu ra. Thực nghiệm tối ưu hóa thường sử dụng dạng thiết kế thí nghiệm “bề mặt chỉ tiêu” (Response Surface Methodology).
Trong trường hợp hàm mục tiêu không có cực trị trong phạm vi khảo sát, thực nghiệm cho phép ta tạo các xác lập để đạt được giá trị xác định của hàm mục tiêu. 6 Tiến trình thiết kế thực nghiệm thường bao gồm 7 giai đoạn như Hình 2. Phát Xác Lựa Thiết Tiến Phân biểu định chọn kế hành tích Kết vấn các hàm thực thực kết luận đề yếu mục nghiệm nghiệm quả tố tiêu Hình 2.2 Các giai đoạn thiết kế thực nghiệm 2.2 Thiết kế thực nghiệm sàng lọc theo phương pháp Taguchi 2.1 Thiết kế thực nghiệm sàng lọc Trong hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm về các đối tượng hay quá trình kỹ thuật, số lượng các yếu tố có thể ảnh hưởng đến mục tiêu nghiên cứu thường rất lớn. Nói theo ngôn ngữ nghiên cứu thực nghiệm, số biến thực nghiệm có thể gây ảnh hưởng đến hàm mục tiêu là không ít.
Kế hoạch thí nghiệm sàng lọc (Screening Experiment Design) được thiết kế nhằm giảm bớt số biến cần tiến hành thực nghiệm bằng cách chỉ ra các biến có ảnh hưởng mạnh nhất đến hàm mục tiêu. Căn cứ vào khả năng tiến hành thực nghiệm, nhà nghiên cứu có thể chọn chỉ một số ít biến và tiến hành tiếp các thực nghiệm cải thiện hay tối ưu hóa hàm đầu ra. Các mục đích cần đạt được của thực nghiệm sàng lọc là: _ Tiến hành số thực nghiệm ít nhất trên số biến nhiều nhất. _ Đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các biến đến hàm đầu ra.
_ Đánh giá được mức độ ảnh hưởng tương tác giữa các biến. _ Xác định được quan hệ vào - ra đơn giản (bậc nhất) dùng làm cơ sở cho quá trình cải thiện hoặc tối ưu hóa sau này. Tùy theo số lượng các biến cần khảo sát và đòi hỏi về chi phí, thời gian có thể chọn kiểu thiết kế thực nghiệm dạng 2k hoặc 2k-p cho các thực nghiệm sàng lọc. Các kỹ thuật phân tích thống kê sẽ cho phép đánh giá mức độ ảnh hưởng của các biến được xét đến hàm đầu ra cũng như ảnh hưởng tương tác giữa chúng.
Kỹ thuật hồi quy đa biến được sử dụng để xác định quan hệ giữa các biến với hàm mục tiêu. Nhiều tác giả khuyên rằng, khi số biến thực nghiệm không quá 5, có thể sử dụng thiết kế 2k. Khi số biến thực nghiệm lớn hơn 5, nên dùng thiết kế 2k-p.2 Phương pháp Taguchi - Thiết kế thực nghiệm dạng trực giao Phương pháp Taguchi ban đầu tiếp cận theo hướng sử dụng một quy hoạch thực nghiệm cho các biến có thể kiểm soát và một quy hoạch thực nghiệm khác cho các biến nhiễu. Sau đó, hai dạng quy hoạch thực nghiệm này được ghép lại làm một.
Nghĩa là, trong mỗi thực nghiệm theo dạng Taguchi, có sự thay đổi của cả biến kiểm soát được và biến nhiễu. Nên nó được gọi là quy hoạch thực nghiệm dạng trực giao. Các đặc điểm phương pháp Taguchi: 1. Phương pháp Taguchi bổ sung cho hai phương pháp quy hoạch thực nghiệm toàn phần và riêng phần.
Phương pháp Taguchi dựa trên ma trận thực nghiệm trực giao xây dựng trước và phương pháp để phân tích đánh giá kết quả. Các nhân tố có thể có 2, 3, 4, 5,. 8 mức giá trị. Phương pháp Taguchi sử dụng tốt nhất với số nhân tố khảo sát từ 3 đến 50, số tương tác ít và khi chỉ có một số ít nhân tố có ý nghĩa.
Phương pháp Taguchi sử dụng tỉ số tín hiệu/ nhiễu (signal-to-noise) S/N được chuyển đổi từ hàm số mất mát L = k (y - m)2, trong đó L là mất mát do sai lệch giá trị đáp ứng y nhận được so với giá trị đáp ứng m mong muốn, k là hằng số. Tỉ số S/N được xây dựng và chuyển đổi để tính toán cho 3 trường hợp chính: - Nếu giá trị đáp ứng yi cần đạt “Lớn hơn tốt hơn” thì áp dụng công thức 2.1) - Nếu giá trị đáp ứng yi cần đạt “Nhỏ hơn tốt hơn” thì áp dụng công thức 2.2) - Nếu giá trị đáp ứng yi cần đạt “Đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố” thì áp dụng công thức 2.3) trong đó theo công thức 2.4) với n, s, ȳ lần lượt là số thí nghiệm lặp, độ lệch chuẩn và giá trị trung bình. Trong mọi trường hợp, tỉ số S/N càng lớn thì đặc tính nhận được càng tốt.