Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Công nghệ Thực phẩm (mã ngành: 954.01) của nghiên cứu sinh Trương Thị Mộng Thu, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thanh Trúc và PGS. Lê Thị Minh Thủy tại Trường Đại học Cần Thơ năm 2023, có tiêu đề: "Nghiên cứu thu nhận protein từ phụ phẩm cá lóc (Channa striata) và đánh giá khả năng phát triển sản phẩm".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Cá lóc (Channa striata) là đối tượng thủy sản nước ngọt được nuôi thâm canh và bán thâm canh phổ biến tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Quá trình chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng từ cá lóc (như cá khô, chà bông, mắm, chả cá) có tỷ lệ thu hồi thịt phi lê chỉ đạt khoảng 60%, đồng nghĩa với việc phát sinh khoảng 40% phụ phẩm gồm đầu, da, vảy, xương, vây và nội tạng. Lượng phụ phẩm này chủ yếu được tiêu thụ trực tiếp tại các chợ hoặc bán với giá thành thấp làm thức ăn chăn nuôi, gây lãng phí nguồn dinh dưỡng và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường. Phụ phẩm cá lóc chứa hàm lượng protein thô tương đối cao (dao động từ 13,58% đến 21,60%), có thành phần amino acid cân đối và giá trị sinh học tương đương protein cơ thịt.

Về mặt công nghệ, việc ứng dụng enzyme protease thương mại để thủy phân protein hoặc trích ly collagen từ da và vảy động vật đã được triển khai trên nhiều đối tượng thủy sản. Tuy nhiên, các nguồn collagen truyền thống từ động vật có vú (bò, heo) đang đối mặt với nguy cơ lây truyền dịch bệnh (bệnh bò điên, lở mồm long móng) và rào cản tôn giáo. Trong khi đó, các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận việc thủy phân bằng một loại enzyme đơn lẻ hoặc chiết tách collagen độc lập từ da hoặc vảy của các loài cá tra, cá chẽm, cá hồi. Khoảng trống kỹ thuật mà tác giả xác định là:

  • Chưa có công trình khảo sát toàn diện về quy luật biến đổi chất lượng của phụ phẩm đầu cá lóc trong điều kiện bảo quản lạnh đông dài ngày phục vụ thủy phân.
  • Chưa thiết lập được chế độ tối ưu cho quá trình thủy phân đầu cá lóc bằng mô hình kết hợp hai giai đoạn giữa protease nội sinh cắt liên kết bên trong (alcalase) và protease cắt đầu tận cùng (flavourzyme) nhằm kiểm soát vị đắng và nâng cao hiệu suất thu hồi protein.
  • Chưa có quy trình chiết tách collagen tích hợp trực tiếp từ hỗn hợp đồng thời cả da và vảy cá lóc bằng kỹ thuật hóa sinh kết hợp (pepsin trong dung dịch acetic acid).
  • Thiếu hụt các thông số động học bảo quản gia tốc (ASLT) của bột đạm thủy phân và công thức phối chế ứng dụng các chế phẩm này vào hệ sản phẩm thực phẩm cụ thể.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án thiết lập hệ thống mục tiêu bao gồm:

  1. Mục tiêu chung: Xác định các thông số kỹ thuật và tối ưu hóa quá trình thu nhận protein từ đầu, da và vảy cá lóc để chế biến các chế phẩm giàu protein theo định hướng xây dựng quy trình sản xuất bột đạm thủy phân từ đầu cá lóc bằng alcalase và flavourzyme; chiết tách collagen từ hỗn hợp da-vảy cá lóc bằng acetic acid và pepsin; đồng thời ứng dụng các chế phẩm giàu protein trong sản xuất sản phẩm bột súp rau củ và nước ép giàu collagen.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Mục tiêu 1: Xác định được thời gian trữ đông thích hợp để đầu cá lóc vẫn duy trì chất lượng tốt, đồng thời chọn được biện pháp tiền xử lý phụ phẩm thích hợp.
    • Mục tiêu 2: Thiết lập được chế độ thủy phân tối ưu cho đầu cá lóc bằng công nghệ enzyme phù hợp để thu nhận dịch đạm thủy phân.
    • Mục tiêu 3: Xây dựng được quy trình chiết tách collagen từ hỗn hợp da-vảy cá lóc có thành phần amino acid cân đối, màu sắc sáng đẹp, độ hòa tan cao đảm bảo phù hợp tính chất của collagen loại I.
    • Mục tiêu 4: Dự đoán được thời gian bảo quản cho phép đối với chế phẩm giàu protein thu nhận từ phụ phẩm cá lóc và bước đầu ứng dụng để chế biến một số sản phẩm thực phẩm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Phụ phẩm cá lóc đen (Channa striata Bloch, 1797) bao gồm đầu cá, da cá và vảy cá, được thu gom tại Cơ sở khô cá lóc 7 Chóp (huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang). Nguồn nguyên liệu thuộc vùng nuôi kiểm soát theo Quyết định số 53/2009/QĐ-UBND tỉnh An Giang.
  • Phạm vi không gian: Phòng thí nghiệm Khoa Khoa học và Công nghệ Chế biến Thủy sản (Trường Thủy sản) và phòng thí nghiệm Bộ môn Công nghệ Thực phẩm (Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm), Trường Đại học Cần Thơ.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu và thực nghiệm được tiến hành từ tháng 11/2020 đến tháng 4/2023.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại

Trong Chương 2, tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các mảng nội dung chính:

  • Thành phần dinh dưỡng của cá lóc và phụ phẩm: Tác giả đối sánh dữ liệu thành phần dinh dưỡng thịt cá lóc ở các quốc gia như Việt Nam (Nguyen et al., 2012), Lào (Nurhasan et al., 2010), Pakistan (Kulachi et al., 2014) và Indonesia (Firlianty, 2013). Về phụ phẩm, Ung Minh Anh Thư (2018) khảo sát phụ phẩm cá lóc hỗn hợp có 13,85% protein, 12,42% lipid; Võ Hoàng Ngân (2020) nghiên cứu phụ phẩm cá lóc có 15,36% protein, 9,76% lipid; Agustin et al. (2023) xác định hàm lượng protein trong đầu cá lóc đạt 14,29% và lipid 0,62%; Rosmawati et al. (2018) xác định da cá lóc chứa 18,49% protein; Pamungkas et al. (2019) xác định vảy cá lóc chứa 21,60% protein và hàm lượng tro khoáng cao tới 19,02%.
  • Kỹ thuật tiền xử lý loại tạp chất:
    • Tách lipid: Quero-Jiménez et al. tổng kết các phương pháp vật lý, hóa học và enzyme; Trần Kiều Anh và ctv. (2017) dùng nhiệt (95°C) tách lipid phụ phẩm cá hồi đạt hiệu suất 75,82%; Sun et al. (2019) sử dụng hỗn hợp ethanol/hexane (4:6 v/v) trích ly lipid ruốc đạt 97,72%; Nilsuwan et al. (2021) khử lipid da cá hồi bằng isopropanol loại được 84,19% lipid; Dumay et al. (2006) và Ramakrishnan et al. (2013) sử dụng alcalase tách lipid phế liệu cá thu đạt 76,26%.
    • Loại protein phi collagen: Sử dụng NaOH nồng độ loãng (0,05 - 0,2 N) trên da cá chẽm (Sinthusamran et al., 2013), da và xương cá hồng (Kittiphattanabawon et al., 2005), da cá lóc Channa argus (Liu et al., 2014), da cá thát lát còm (Lê Thị Minh Thủy & Trương Thị Mộng Thu, 2020).
    • Khử khoáng vảy cá: Zhang et al. (2011) dùng dung dịch HCl 0,4 M trên vảy cá trắm; tuy nhiên Hwang et al. (2007) và Liu et al. (2012) chỉ ra rằng HCl gây thất thoát hydroxyproline và làm biến tính cấu trúc xoắn ba, do đó dung dịch EDTA-2Na nồng độ 0,5 - 0,8 M được đánh giá cao hơn về khả năng bảo toàn cấu trúc phân tử (Duan et al., 2009; Ikoma et al., 2003; Thuy et al., 2014).
  • Thủy phân protein phụ phẩm bằng protease thương mại:
    • Alcalase: Khảo sát cơ chế cắt liên kết peptide nội phân tử của protease vi khuẩn Bacillus licheniformis (Guérard et al., 2001; Ovissipour et al., 2009; Safari et al., 2011; Roslan et al., 2015; Lê Trung Thiên và ctv., 2017; Nguyễn Chí Thanh và ctv., 2019).
    • Flavourzyme: Đánh giá hoạt tính exopeptidase từ Aspergillus oryzae giúp thủy phân đầu N tận cùng, giải phóng amino acid tự do và làm giảm vị đắng hình thành từ các chuỗi peptide kỵ nước (Chiang et al., 1999; Šližytė et al., 2005; Phuong & Huong, 2015; Sumaya-Martínez et al., 2005; Nilsang et al., 2005; Đỗ Trọng Sơn và ctv., 2013).
    • Kết hợp enzyme: Kết hợp đồng thời alcalase và flavourzyme (Đỗ Thị Thanh Thủy & Nguyễn Anh Tuấn, 2017; Senadheera et al., 2017; Vy et al., 2018); hoặc thủy phân hai giai đoạn bổ sung alcalase trước và flavourzyme sau nhằm ngăn chặn hiện tượng enzyme tự phân giải lẫn nhau (Nguyễn Thị Mỹ Hương, 2019; Trần Kiều Anh và ctv., 2017).
  • Chiết tách collagen và ứng dụng collagen thủy phân: Zaelani et al. (2020), Liu et al. (2014), Ahmed et al. (2019), Wang et al. (2007), Trần Thị Huyền và ctv. (2012), Lê Phan Thùy Hạnh & Trần Quyết Thắng (2017), Lê Thị Thu Hương và ctv. (2017), Bilek & Bayram (2015).

Vị trí và giải pháp lựa chọn của luận án

Dựa trên tổng quan tài liệu, luận án định vị trọng tâm giải quyết hai khoảng trống công nghệ:

  1. Xác lập thông số quy trình thủy phân phụ phẩm đầu cá lóc theo mô hình hai giai đoạn: dùng alcalase mở vòng cấu trúc và phân cắt mạch chính, sau đó bổ sung flavourzyme vào thời điểm thích hợp để giải phóng amino acid, khử vị đắng, tối ưu hóa đồng thời độ thủy phân (DH), hiệu suất thu hồi protein (PR) và hàm lượng đạm amin (Naa).
  2. Tích hợp đồng thời da và vảy cá lóc thành một cơ chất duy nhất để trích ly collagen loại I bằng tác nhân sinh hóa kết hợp (pepsin pha trong acid acetic loãng), giải quyết hạn chế năng suất thấp của phương pháp acid thuần túy và rút ngắn thời gian xử lý độc lập từng loại phụ phẩm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và mô hình tiếp cận

  • Cơ chế thủy phân liên kết peptide: Thủy phân protein bằng enzyme dựa trên xúc tác sinh học phá vỡ liên kết amide (-CO-NH-) trong điều kiện nhiệt độ và pH êm dịu. Hoạt tính endopeptidase của alcalase (serine protease, EC 3.4.21.62) tác động vào các liên kết peptide bên trong phân tử, làm giảm nhanh khối lượng phân tử cơ chất. Hoạt tính exopeptidase của flavourzyme (aminopeptidase, EC 3.4.11.1) thủy phân có chọn lọc các gốc amino acid tận cùng chuỗi peptide, trực tiếp loại bỏ các peptide kỵ nước ngắn gây vị đắng.
  • Cơ chế trích ly collagen bằng acid và enzyme: Phân tử collagen có cấu trúc xoắn ba (triple helix) liên kết chặt chẽ bởi các cầu nối cộng hóa trị liên phân tử ở vùng telopeptide không cuộn xoắn. Acid acetic làm trương nở các sợi collagen và phân ly các liên kết yếu (liên kết hydro, liên kết tĩnh điện). Pepsin cắt chọn lọc các chuỗi telopeptide không xoắn ba mà không làm tổn hại cấu trúc xoắn ba trung tâm, làm tăng độ hòa tan của collagen monomer vào dung dịch chiết.
  • Mô hình động học suy giảm chất lượng và dự đoán thời hạn bảo quản (ASLT): Quá trình hấp thụ ẩm của bột đạm thủy phân được mô hình hóa theo phương trình Arrhenius để xác định hằng số tốc độ phản ứng biến đổi chất lượng ($k$) theo nhiệt độ và độ ẩm tương đối, từ đó tính toán năng lượng hoạt hóa ($E_a$) và thời hạn sử dụng.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Luận án thuộc dạng nghiên cứu thực nghiệm định lượng kết hợp tối ưu hóa quy trình công nghệ và phân tích công cụ.

Mẫu nguyên liệu phụ phẩm (Đầu, da, vảy cá lóc)

Phương pháp phân tích và trang thiết bị thực nghiệm

Chỉ tiêu phân tích Phương pháp / Tiêu chuẩn áp dụng Thiết bị thực hiện
Độ ẩm Sấy đến khối lượng không đổi (TCVN 3700:1990) Tủ sấy Memmert UF 450, tủ sấy JEIOTECH ON-11E
Hàm lượng Protein Kjeldahl hóa mẫu (TCVN 3705:1990) Bộ chưng cất đạm tự động Velp UDK159
Hàm lượng Lipid Chiết dung môi hồi lưu (TCVN 3703:2009) Hệ thống Soxhlet Gerhardt
Hàm lượng Khoáng Tro hóa ở nhiệt độ cao (TCVN 5105:2009) Lò nung Muffle Furnace Gallenkamp
Độ thủy phân (DH) Phương pháp OPA (Nielsen et al., 2001) Máy so màu quang phổ Genesys 30
Hàm lượng đạm amin (Naa) Chuẩn độ formol hiệu chuẩn đạm ammoniac (TCVN 12620:2019) Dụng cụ chuẩn độ phân tích
Điện di phân tử SDS-PAGE theo Laemmli (1970) Bộ điện di Mini-PROTEAN 3 cell Bio-Rad
Nhiệt độ biến tính nhiệt Phân tích nhiệt quét vi sai (DSC) Thiết bị phân tích nhiệt quét vi sai DSC
Cấu trúc dao động phân tử Quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR) Máy quang phổ hồng ngoại FTIR
Phân đoạn kích thước peptide Siêu lọc tiếp tuyến qua màng Amicon Hệ thống lọc màng Amicon Millipore (3, 10, 30 kDa)
Kim loại nặng (Pb, Cd, As, Cu) Quang phổ hấp thu nguyên tử (AOAC 2013.06) Hệ thống AAS
Thử nghiệm gia tốc (ASLT) Đánh giá ở 30°C, 50°C, 70°C và độ ẩm 70%, 90% Tủ môi trường vi khí hậu PHC MLR-352H

Thu thập và xử lý số liệu

Mọi thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 lần lặp lại độc lập. Dữ liệu thực nghiệm được xử lý thống kê mô tả (giá trị trung bình, độ lệch chuẩn) bằng phần mềm Microsoft Excel 2013. Phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA) và kiểm định phân hạng Tukey ($p < 0,05$) được thực hiện trên phần mềm Statgraphics Centurion XV Version 15. Quá trình tối ưu hóa đa biến được xây dựng theo phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM) áp dụng cấu trúc quy hoạch thực nghiệm hỗn hợp quy mô nhỏ Draper-Lin (Draper-Lin small composite design).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương này đặt nền tảng định hướng cho toàn bộ luận án:

  • Nêu rõ bối cảnh công nghiệp chế biến cá lóc tại Đồng bằng sông Cửu Long, thực trạng phát sinh phụ phẩm và tiềm năng khai thác protein có giá trị sinh học.
  • Đặt ra hệ thống mục tiêu chung và 4 mục tiêu cụ thể, phân định 4 nội dung nghiên cứu gắn liền với từng chuỗi công nghệ.
  • Xác định rõ đối tượng phụ phẩm (đầu, da, vảy cá lóc) và phạm vi nghiên cứu từ khâu tiền xử lý, thủy phân, chiết tách đến phát triển sản phẩm thực phẩm hoàn chỉnh.
  • Trình bày ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình trong việc nâng cao chuỗi giá trị cá lóc hướng tới mô hình kinh tế tuần hoàn không chất thải.

Chương 2: Tổng quan tài liệu

Chương 2 cung cấp hệ thống cơ sở lý luận chi tiết:

  • Trình bày đặc điểm phân loại học của cá lóc đen (Channa striata Bloch, 1797) thuộc chi Channa, họ Channidae, bộ Perciformes, cùng số liệu sản lượng nuôi trồng tại tỉnh Trà Vinh (đạt gần 52.000 tấn năm 2022 trên diện tích 450 ha).
  • Dẫn chứng số liệu tổng quan về thành phần khối lượng phụ phẩm cá chế biến (chiếm hơn 60% tổng khối lượng cơ thể). Phân tích cấu trúc phân tử mô cơ cá gồm protein cấu trúc (myosin 50-60%, actin 15-30%), protein chất nền và mô liên kết giàu amino acid thiết yếu.
  • Phân tích sâu nguyên lý các kỹ thuật tiền xử lý: phân tách màng lipid cơ học và trích ly dung môi hữu cơ; ngâm dung dịch kiềm loãng (NaOH) hòa tan mucopolysaccharide, sắc tố và protein phi collagen; khử khoáng hydroxyapatite bằng tác nhân tạo phức chelate EDTA-2Na để bảo toàn liên kết peptide xoắn ba.
  • Trình bày đặc tính sinh hóa, tính đặc hiệu và động học của các enzyme alcalase (nguồn gốc Bacillus licheniformis) và flavourzyme (nguồn gốc Aspergillus oryzae); cơ chế trích ly collagen bằng acid acetic và pepsin; các nghiên cứu ứng dụng bột đạm thủy phân và collagen thủy phân trong chế biến thực phẩm.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết phương tiện, hóa chất, nguyên liệu và quy trình bố trí thí nghiệm:

  • Phương tiện nghiên cứu: Mô tả cấu hình máy sấy thăng hoa iFDs (-20°C đến -1°C, áp suất 0 - 520 mTorr), hệ thống lọc màng Amicon (3 kDa, 10 kDa, 30 kDa), máy đo độ nhớt Brookfield RVDV-II+CP, máy đo màu Colorimeter PCE-CSM 2, máy chưng cất đạm Velp UDK159.
  • Enzyme và hóa chất: Alcalase 2,4L (hoạt độ 825 U/mL), Flavourzyme (hoạt độ 2450 LAPU/g), Pepsin lợn (hoạt độ 0,7 FIP-U/mg, Merck). Hóa chất phân tích đạt độ tinh khiết cao.
  • Tiến trình bố trí 4 nội dung thực nghiệm (gồm 21 thí nghiệm cụ thể):
    • Nội dung 1: Khảo sát thời gian trữ đông đầu cá lóc (0, 1, 2, 3 tháng); khảo sát 7 phương pháp tách lipid (đối chứng, nhiệt 95°C, n-hexane, isopropanol, ethanol, isopropanol/hexane, ethanol/hexane); khảo sát nồng độ NaOH (0,05; 0,1; 0,15 M) và thời gian (2, 4, 6, 8 giờ) trên da cá; khảo sát nồng độ EDTA-2Na (0,2; 0,4; 0,6; 0,8; 1,0 M) và thời gian (12, 24, 36, 48 giờ) trên vảy cá.
    • Nội dung 2: Khảo sát đơn yếu tố thủy phân bằng flavourzyme (nồng độ, thời gian, nhiệt độ) và alcalase (nồng độ, thời gian, nhiệt độ); quy hoạch RSM thủy phân kết hợp đồng thời hai enzyme; khảo sát thời điểm bổ sung flavourzyme; quy hoạch RSM thủy phân hai giai đoạn; lọc phân đoạn màng siêu lọc.
    • Nội dung 3: Khảo sát nồng độ acetic acid và thời gian trích ly; khảo sát nồng độ pepsin kết hợp và thời gian trích ly; đánh giá tính chất hóa lý, điện di SDS-PAGE, quang phổ FTIR, nhiệt độ biến tính DSC; khảo sát thủy phân collagen bằng alcalase.
    • Nội dung 4: Dự đoán hạn sử dụng bột đạm thủy phân theo ASLT; phối trộn sản phẩm bột súp rau củ; bổ sung collagen thủy phân vào nước ép dâu tằm.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 là phần nội dung thực nghiệm trung tâm với đầy đủ số liệu định lượng:

1. Thành phần hóa học của phụ phẩm cá lóc

Phụ phẩm cá lóc thu nhận từ quá trình chế biến khô có tỷ lệ thành phần khối lượng: đầu cá chiếm tỷ lệ cao nhất trong các phụ phẩm rắn, tiếp theo là xương, vây, da và vảy. Kết quả phân tích thành phần hóa học cơ bản của các bộ phận phụ phẩm được tổng hợp chi tiết:

Bộ phận phụ phẩm Độ ẩm (%) Protein thô (%) Lipid thô (%) Khoáng tổng số (%)
Đầu cá lóc $72,68 \pm 0,10$ $14,29 \pm 0,10$ $0,62 \pm 0,17$ $1,58 \pm 0,16$
Da cá lóc $74,33 \pm 0,15$ $18,49 \pm 0,59$ $2,99 \pm 0,42$ $0,20 \pm 0,09$
Vảy cá lóc $56,73 \pm 0,41$ $21,60 \pm 0,11$ $0,26 \pm 0,12$ $19,02 \pm 0,26$

2. Kết quả tiền xử lý và bảo quản phụ phẩm

  • Thời gian trữ đông đầu cá lóc: Trữ đông ở $-20 \pm 2^\circ\text{C}$ trong 3 tháng cho thấy các chỉ số chất lượng nguyên liệu vẫn nằm trong ngưỡng an toàn (pH dao động 6,42 - 6,55; chỉ số peroxide PV tăng từ 0,65 lên 2,14 meq/kg; TVB-N tăng từ 11,2 lên 17,8 mg N/100g; TVKHK $< 10^5\text{ cfu/g}$). Tuy nhiên, khi đánh giá hiệu quả thủy phân bằng alcalase, mẫu bảo quản đến tháng thứ 2 cho độ thủy phân DH và hiệu suất thu hồi protein PR cao và ổn định ($DH = 38,5%$, $PR = 48,7%$), trong khi mẫu trữ đông 3 tháng có sự suy giảm rõ rệt về PR do protein biến tính co cụm. Do đó, thời gian bảo quản đầu cá lạnh đông tối đa được chọn là 2 tháng.
  • Phương pháp tách lipid đầu cá lóc: Thử nghiệm so sánh 7 phương pháp cho thấy nghiệm thức đối chứng (không tiền xử lý loại lipid bằng dung môi hay nhiệt trước khi thủy phân) đạt kết quả tối ưu: hiệu suất tách lipid tự nhiên qua quá trình thủy phân và ly tâm đạt 78,4%, DH đạt 38,5%, PR đạt 48,7%, hàm lượng đạm amin Naa đạt 11,6 g/L và đạm ammoniac rất thấp ở mức 0,249 g/L. Việc xử lý nhiệt 95°C làm biến tính protein khiến PR giảm, trong khi xử lý dung môi hữu cơ làm tăng chi phí và ảnh hưởng xấu đến hoạt tính enzyme.
  • Tiền xử lý da cá lóc: Xử lý bằng dung dịch NaOH 0,1 M trong 6 giờ ở 4°C giúp loại bỏ hiệu quả protein phi collagen đạt 25,7%, hàm lượng protein còn lại trong da là 24,5%, cấu trúc da trương nở tốt và không bị thủy phân làm mất collagen.
  • Khử khoáng vảy cá lóc: Xử lý bằng dung dịch EDTA-2Na 0,8 M trong 24 giờ cho hiệu quả khử khoáng đạt 92,8%, hàm lượng khoáng còn lại trong vảy giảm xuống mức thấp 1,99%, loại bỏ cản trở của canxi đối với quá trình trích ly collagen.

3. Tối ưu hóa quá trình thủy phân đầu cá lóc bằng enzyme

  • Thủy phân bằng từng enzyme đơn lẻ:
    • Flavourzyme đơn lẻ: Điều kiện thích hợp là nồng độ enzyme 120 U/g protein, thời gian 30 giờ, nhiệt độ 50°C. Kết quả thu được: $DH = 39,1%$, $PR = 49,9%$, $Naa = 6,49\text{ g/L}$.
    • Alcalase đơn lẻ: Điều kiện thích hợp là nồng độ enzyme 40 U/g protein, thời gian 30 giờ, nhiệt độ 50°C. Kết quả thu được: $DH = 40,8%$, $PR = 50,2%$, $Naa = 13,0\text{ g/L}$.
  • Thủy phân kết hợp đồng thời Alcalase và Flavourzyme (tối ưu hóa RSM):
    • Áp dụng mô hình Draper-Lin small composite design với các biến số: nhiệt độ, thời gian, pH và nồng độ hỗn hợp enzyme.
    • Điểm tối ưu: nhiệt độ 56°C, thời gian 30 giờ, pH 7,0, tổng nồng độ enzyme alcalase + flavourzyme là 179 U/g protein.
    • Giá trị đạt được: $DH = 50,29%$, $PR = 65,43%$, $Naa = 13,09\text{ g/L}$.
  • Thủy phân hai giai đoạn theo trình tự (Alcalase trước, Flavourzyme sau):
    • Khảo sát thời điểm bổ sung flavourzyme cho thấy bổ sung sau 8,5 giờ đạt kết quả cao nhất.
    • Tối ưu hóa bề mặt đáp ứng RSM thiết lập điều kiện tối ưu: bổ sung alcalase nồng độ 51 U/g protein ở giai đoạn đầu, sau 8,5 giờ bổ sung tiếp flavourzyme nồng độ 112 U/g protein, tổng thời gian thủy phân là 33 giờ tại 56°C.
    • Giá trị các hàm mục tiêu đạt đỉnh: $DH = 53,05%$, $PR = 66,68%$, $Naa = 14,01\text{ g/L}$.
    • Dịch thủy phân hai giai đoạn có điểm cảm quan vị đắng thấp nhất (1,86/5 điểm - mức đắng rất yếu), tổng hàm lượng amino acid (TAA) đạt 80,59 g/100 g bột khô và tổng amino acid thiết yếu (TEAA) đạt 24,56 g/100 g bột khô.
  • Phân đoạn màng siêu lọc Amicon:
    • Màng lọc siêu lọc 3 kDa tách được phân đoạn peptide $< 3\text{ kDa}$ chiếm 82,8% tổng lượng peptide, điểm cảm quan vị đắng giảm xuống còn 1,42 điểm (gần như không đắng).
    • Tuy nhiên, để tiết kiệm chi phí năng lượng và thiết bị lọc màng trong sản xuất công nghiệp, dịch đạm toàn phần không qua lọc màng (có điểm vị đắng yếu 1,86 điểm) vẫn được lựa chọn để sản xuất bột đạm sấy thăng hoa. Bột đạm thành phẩm không phát hiện kim loại nặng nguy hại (As, Cd, Pb đều đạt tiêu chuẩn).

4. Nghiên cứu chiết tách collagen từ hỗn hợp da-vảy cá lóc

  • Chiết tách bằng dung dịch Acetic acid thuần túy: Nồng độ acetic acid 0,6 M trong thời gian 3 ngày cho hiệu suất thu hồi collagen đạt 3,18%, sản phẩm có độ sáng cao với chỉ số $L^* = 83,6$.
  • Chiết tách kết hợp Pepsin và Acetic acid: Sử dụng pepsin nồng độ 0,1% pha trong dung dịch đệm acetic acid 0,6 M trong thời gian chiết tách 2 ngày giúp nâng hiệu suất thu hồi collagen lên mức 20,8% (tăng gấp hơn 6,5 lần so với acid thuần túy), độ sáng sản phẩm đạt $L^* = 87,9$.
  • Đặc tính hóa lý và cấu trúc collagen:
    • Cả hai mẫu collagen chiết bằng acid (ASC) và pepsin (PSC) đều được xác định là collagen loại I với cấu tạo dải điện di SDS-PAGE gồm 2 chuỗi $\alpha_1$, 1 chuỗi $\alpha_2$ và chuỗi $\beta$ dimer.
    • Phổ FTIR thể hiện rõ các dải hấp thụ đặc trưng của collagen: Amide A (khoảng 3300 - 3320 cm⁻¹), Amide B (khoảng 2924 - 2928 cm⁻¹), Amide I (khoảng 1645 - 1650 cm⁻¹), Amide II (khoảng 1540 - 1550 cm⁻¹) và Amide III (khoảng 1235 - 1240 cm⁻¹).
    • Độ hòa tan tối đa ở môi trường acid (pH 2) và giảm mạnh khi nồng độ muối NaCl vượt quá 0,4 M.
    • Collagen chiết bằng acetic acid có hàm lượng imino acid (proline + hydroxyproline) là 22,6% với nhiệt độ biến tính nhiệt ($T_d$) là 35,78°C; collagen chiết bằng pepsin có hàm lượng imino acid là 20,0% với $T_d = 34,09^\circ\text{C}$.
  • Thủy phân collagen thành peptide: Collagen trích ly bằng pepsin được thủy phân bằng alcalase nồng độ 2% trong thời gian 3 giờ cho hiệu suất thu hồi collagen thủy phân đạt 98,6%, độ nhớt dung dịch giảm xuống còn 7,01 mPa.s.

5. Đánh giá hạn sử dụng và ứng dụng phát triển sản phẩm

  • Dự đoán thời hạn bảo quản bột đạm thủy phân: Thử nghiệm gia tốc ASLT tại các nhiệt độ 30°C, 50°C, 70°C dưới hai điều kiện độ ẩm tương đối 70% và 90%. Kết quả tính toán từ đồ thị Arrhenius dự đoán sản phẩm bột đạm thủy phân đóng gói bao bì nhôm có hạn sử dụng là 10,3 tháng khi bảo quản tại điều kiện thường (nhiệt độ 30°C, độ ẩm không khí 70%).
  • Sản phẩm bột súp rau củ: Phối trộn 8% bột đạm thủy phân từ đầu cá lóc với 24,9% bột kem béo thực vật tạo ra sản phẩm bột súp rau củ đạt điểm cảm quan xuất sắc (18,6/20 điểm). Thành phần dinh dưỡng cân bằng trong 100 g sản phẩm khô gồm: protein 10,1%; lipid 4,42%; carbohydrate 67,8%; độ ẩm 4,21% và cung cấp tổng năng lượng 351,4 kcal/100 g.
  • Sản phẩm nước ép dâu tằm giàu collagen: Bổ sung collagen thủy phân vào nước ép dâu tằm với tỷ lệ 2% (w/v) cho sản phẩm có điểm cảm quan cao (17,9/20 điểm), hàm lượng protein hòa tan đạt 26,5 mg/mL và hoạt tính chống oxy hóa quét gốc tự do DPPH đạt 60,1%.

Chương 5: Kết luận và đề xuất

  • Tóm lược toàn bộ hệ thống thông số kỹ thuật đã được tối ưu hóa từ 4 nội dung nghiên cứu.
  • Đề xuất hoàn thiện thiết kế dây chuyền sản xuất pilot để thương mại hóa bột đạm thủy phân và collagen từ phụ phẩm cá lóc.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Cung cấp bộ dữ liệu khoa học đầy đủ và có hệ thống về thành phần sinh hóa của các cấu phần phụ phẩm cá lóc đen (Channa striata), bao gồm đầu, da và vảy cá lóc nuôi tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
  2. Làm sáng tỏ cơ chế và chứng minh tính hiệu quả của phương thức thủy phân enzyme hai giai đoạn (kết hợp theo trình tự alcalase trước, flavourzyme sau) trong việc kiểm soát mức độ thủy phân (DH), nâng cao hiệu suất thu hồi protein (PR) và đặc biệt là giải phóng triệt để đạm amin (Naa) đồng thời làm giảm vị đắng của dịch đạm mà không cần qua công đoạn lọc màng tốn kém.
  3. Xác lập cơ sở khoa học cho việc phối hợp đồng thời hai cơ chất da và vảy cá lóc trong một quy trình trích ly collagen duy nhất bằng tác nhân sinh hóa kết hợp (pepsin/acetic acid), chứng minh sản phẩm thu được hoàn toàn tương thích và mang đầy đủ đặc trưng cấu trúc của collagen loại I.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Xây dựng thành công quy trình công nghệ thu hồi protein từ đầu cá lóc quy mô phòng thí nghiệm có khả năng ứng dụng thực tế cao: không cần công đoạn tẩy chất béo bằng dung môi phức tạp mà vẫn đạt hiệu quả tách lipid 78,4%, giảm thiểu hóa chất độc hại và hạ giá thành sản xuất.
  2. Xây dựng quy trình sản xuất chế phẩm collagen từ hỗn hợp da-vảy cá lóc bằng enzyme pepsin, rút ngắn thời gian chiết tách từ 3 ngày xuống 2 ngày và nâng hiệu suất thu hồi collagen từ 3,18% lên 20,8%.
  3. Phát triển thành công công thức của hai sản phẩm thực phẩm ứng dụng: bột súp rau củ giàu đạm (bổ sung 8% bột đạm thủy phân) và nước ép dâu tằm chức năng (bổ sung 2% collagen thủy phân), mở rộng hướng đi cụ thể cho việc chế biến không phụ phẩm trong ngành thủy sản.

Kiến nghị và đề xuất của tác giả

  • Tiếp tục nghiên cứu thử nghiệm quy trình công nghệ ở quy mô bán công nghiệp (pilot) để đánh giá đầy đủ tính toán kinh tế kỹ thuật và mức tiêu hao năng lượng.
  • Khảo sát sâu hơn hoạt tính sinh học của các phân đoạn peptide từ đầu cá lóc (hoạt tính ức chế men chuyển angiotensin ACE, hoạt tính kháng khuẩn) phục vụ công nghiệp thực phẩm chức năng và dược phẩm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên các giới hạn nội dung được tác giả trình bày trong luận án:

  • Quy mô thực nghiệm: Toàn bộ các thông số tối ưu hóa được xác lập ở quy mô phòng thí nghiệm (mẻ mẫu nhỏ). Khi nâng cấp lên quy mô pilot hoặc công nghiệp, các yếu tố truyền nhiệt, khuấy đảo và tổn thất qua màng siêu lọc cần được hiệu chỉnh lại.
  • Nguồn nguyên liệu: Nghiên cứu chỉ tập trung vào một nguồn phụ phẩm thu gom từ các cơ sở chế biến khô cá lóc tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Sự biến thiên về mùa vụ, cỡ cá và chế độ dinh dưỡng thức ăn nuôi cá chưa được khảo sát đồng loạt để đánh giá độ ổn định thành phần hóa học của nguyên liệu qua các năm.
  • Phạm vi sản phẩm ứng dụng: Luận án mới dừng lại ở việc thử nghiệm trên hai đối tượng sản phẩm mô hình là bột súp rau củ và nước ép dâu tằm. Cần tiếp tục mở rộng đánh giá hạn sử dụng thực tế và thử nghiệm thị hiếu người tiêu dùng trên diện rộng đối với các hệ sản phẩm thực phẩm đa dạng khác.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị chuyên môn cao cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Chế biến Thủy sản, Hóa sinh học: Có thể tham khảo phương pháp quy hoạch thực nghiệm RSM (mô hình Draper-Lin small composite design) trong tối ưu hóa phản ứng sinh hóa; các quy trình phân tích công cụ điện di SDS-PAGE, quang phổ FTIR, phân tích nhiệt DSC và phương pháp thử nghiệm gia tốc ASLT.
  • Giảng viên và cán bộ nghiên cứu: Sử dụng các dẫn liệu số liệu thực nghiệm về động học thủy phân enzyme protease và các thông số hóa lý của collagen cá nước ngọt để phục vụ giảng dạy các học phần Công nghệ chế biến phụ phẩm thủy sản, Độc học và phụ gia thực phẩm, Công nghệ sinh học thực phẩm.
  • Doanh nghiệp chế biến thủy sản và cán bộ kỹ thuật: Áp dụng trực tiếp thông số công nghệ tiền xử lý đầu, da, vảy cá lóc để xây dựng dự án chế biến phụ phẩm thành bột đạm dinh dưỡng và collagen peptide thương phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế và giải quyết triệt để vấn đề rác thải môi trường tại các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao quy trình thủy phân đầu cá lóc bằng enzyme hai giai đoạn (alcalase trước, flavourzyme sau) lại ưu việt hơn so với việc phối trộn đồng thời hai enzyme ngay từ đầu?

Khi phối trộn đồng thời alcalase và flavourzyme, do bản chất của enzyme là protein, hai enzyme này có thể tương tác và sử dụng lẫn nhau làm cơ chất phân giải, dẫn đến làm suy giảm nhanh hoạt tính xúc tác. Phương thức bổ sung theo trình tự cho phép alcalase hoạt động trước trong 8,5 giờ đầu để phân cắt các chuỗi polypeptide dài bên trong phân tử, làm lộ ra các đầu tận cùng. Sau đó, flavourzyme được bổ sung ở giai đoạn tiếp theo (tổng thời gian 33 giờ) sẽ tập trung cắt các amino acid đầu N giải phóng đạm amin ($Naa = 14,01\text{ g/L}$) và thủy phân triệt để các peptide kỵ nước ngắn, giúp độ thủy phân đạt mức cao nhất ($DH = 53,05%$) và hạn chế vị đắng của dịch đạm xuống mức thấp nhất (1,86 điểm).

2. Dung dịch hóa chất nào được sử dụng để khử khoáng từ vảy cá lóc và hiệu quả đạt được là bao nhiêu?

Luận án sử dụng dung dịch Ethylendiamin Tetraacetic Acid Disodium (EDTA-2Na) nồng độ 0,8 M để ngâm chiết khử khoáng từ vảy cá lóc trong thời gian 24 giờ. Tác nhân này tạo phức chelate với ion canxi ($Ca^{2+}$) mà không làm đứt gãy cấu trúc xoắn ba của sợi collagen. Hiệu quả khử khoáng đạt tới 92,8%, đưa hàm lượng khoáng tổng số còn lại trong vảy cá lóc xuống mức 1,99%, tạo điều kiện cho các phản ứng trích ly tiếp theo.

3. Việc bổ sung enzyme pepsin kết hợp với acetic acid đã cải thiện hiệu suất thu hồi collagen từ hỗn hợp da-vảy cá lóc như thế nào?

Khi chỉ sử dụng dung dịch acetic acid 0,6 M thuần túy để chiết tách trong 3 ngày, hiệu suất thu hồi collagen chỉ đạt 3,18%. Khi bổ sung thêm enzyme pepsin nồng độ 0,1% pha trong đệm acetic acid 0,6 M, thời gian chiết tách được rút ngắn xuống còn 2 ngày nhưng hiệu suất thu hồi collagen tăng vọt lên mức 20,8% (tăng gấp hơn 6,5 lần). Pepsin đóng vai trò cắt chọn lọc các chuỗi telopeptide liên kết chéo ở hai đầu phân tử, giải phóng các monomer collagen hòa tan vào dung môi mà vẫn bảo toàn nguyên vẹn cấu trúc xoắn ba loại I.

4. Bột đạm thủy phân từ đầu cá lóc có thời hạn bảo quản dự đoán là bao lâu theo phương pháp thử nghiệm gia tốc (ASLT)?

Theo phương pháp thử nghiệm bảo quản gia tốc (ASLT) được thiết lập ở ba mốc nhiệt độ 30°C, 50°C, 70°C và độ ẩm tương đối không khí 70% và 90%, kết hợp xử lý dữ liệu động học hấp phụ ẩm theo phương trình Arrhenius, sản phẩm bột đạm thủy phân từ đầu cá lóc được dự đoán có thời hạn bảo quản cho phép là 10,3 tháng trong điều kiện môi trường bảo quản ở nhiệt độ phòng 30°C và độ ẩm tương đối không khí 70%.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trương Thị Mộng Thu đã giải quyết trọn vẹn chuỗi công nghệ tái tạo giá trị từ phụ phẩm đầu, da và vảy cá lóc (Channa striata) thông qua các phương pháp sinh hóa kiểm soát. Bằng việc tối ưu hóa quy trình thủy phân hai giai đoạn kết hợp alcalase và flavourzyme, công trình đã tạo ra bột đạm thủy phân có hàm lượng đạm amin cao, vị đắng rất thấp và thời hạn sử dụng đạt 10,3 tháng. Đồng thời, kỹ thuật chiết tách kết hợp pepsin trong acid acetic trên hỗn hợp da và vảy đã thu hồi thành công collagen loại I có độ tinh khiết và độ sáng cao với hiệu suất 20,8%. Việc thử nghiệm thành công bột súp rau củ bổ sung bột đạm và nước ép dâu tằm bổ sung collagen thủy phân khẳng định tính khả thi trong thực tiễn của việc phát triển các dòng thực phẩm giá trị gia tăng từ nguồn phụ phẩm thủy sản nước ngọt tại Việt Nam.