CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE THU HOI NO CUA NGÂN HÀNG TRONG THI HANH ÁN DAN SỰ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về thi hành án dân sự Hiện nay, việc định nghĩa và hiểu rõ về thi hành án dân sự và bản chất của hoạt động này vẫn gây ra nhiều quan điểm khác nhau, chưa có sự thống nhất và sự đồng tình chung về định nghĩa này. Vì vậy, cần tiếp tục làm rõ nội dung và bản chất của nó, nhăm tạo cơ sở cho việc xác định vị trí, vai trò, chức năng, và nhiệm vụ của hoạt động thi hành án dân sự trong việc thi hành các án quyết và quyết định của tòa an va các cơ quan có thâm quyền trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại, hành chính, hình sự, đặc biệt là trong việc thi hành thu hồi các khoản nợ của ngân hàng.
Đồng thời, cần xây dựng một cơ chế đảm bảo hiệu quả cho hoạt động thi hành án dân sự, trong đó có việc thu hồi các khoản nợ của ngân hàng thông qua việc thi hành án dân sự. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, tổng kết các khái niệm có thé khái quát một số quan điểm về thi hành án dân sự như sau: - Thứ nhất, có thé hiểu rằng hoạt động thi hành án dân sự có khía cạnh của tố tụng hành chính. Điều này bắt nguồn từ việc chuyển giao công tác thi hành án dân sự từ tòa án sang các cơ quan thuộc Chính phủ, khiến cho thâm quyên thi hành án dân sự thuộc về các cơ quan hành pháp và không thuộc tòa án hay cơ quan tư pháp. Đồng thời, việc giải quyết các khiếu nại và tố cáo về việc thi hành án dân sự có sự khác biệt về hình thức và trình tự thủ tục so với quy trình giải quyết khiếu nại và tố cáo trong TTDS thông thường.
- Thứ hai, có thể hiểu thi hành án dân sự là hoạt động hành chính tư pháp nhằm thực hiện đầy đủ, kịp thời những bản án, quyết định về dân sự có hiệu lực pháp luật của tòa án do cơ quan thi hành án, chấp hành viên (CHV) tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật qui định [25, tr. - Thứ ba, có thé hiểu thi hành án dân sự là hoạt động TTDS, giai đoạn thi hành án là giai đoạn cuối cùng của TTDS vì nó mang day đủ tính chất, đặc trưng của TTDS. Theo quan niệm này, cơ quan thi hành án dân sự tuy được đặt trong hệ thống các cơ quan hành chính, nhưng nó không có chức năng quản lý hành chính mà chỉ có chức năng thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án - cơ quan xét xử. Do vậy “thực chất cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ của TTDS là thi hành các bản án, quyết định của Tòa án” [2, tr.
- Thứ tư, cũng có thể hiểu thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp, qua đó bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại và các quyết định về hình sự và quyết định khác được thi hành theo quy định của pháp luật [14, tr. Dựa trên các khái niệm cơ bản đã đề cập, có thể thấy răng các quan điểm trình bay chưa cung cấp được luận cứ rõ ràng dé xác định ban chất của hoạt động thi hành án dân sự. Hầu hết các quan điểm này bắt nguồn từ các quy định pháp luật và tập trung vào việc xác định vị trí và tính chất của các bên tham gia trong hoạt động thi hành án dân sự, cũng như tính chất của công việc thực hiện bởi các cơ quan thi hành án dân sự. Mục tiêu là xác định rõ thi hành án dân sự là hoạt động gi và có tính chất như thế nào.
Tuy nhiên, các quan điểm này vẫn chưa đưa ra được giải pháp thỏa đáng cho các vấn đề được đặt ra. - Theo Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tổ tụng dân sự và Luật Thi hành án hình sự, việc thi hành án hình sự được giao cho các cơ quan thuộc Chính phủ để tổ chức thực hiện (ví dụ: Bộ Công an tô chức thi hành án phạt tù, ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị tran tổ chức thi hành án quản chế, và các cơ quan tô chức khác thực hiện việc thi hành án treo đối với cá nhân, công dân năm trong phạm vi quản lý của cơ quan đó). Vì vậy, việc thi hành án phạt tù vẫn được coi là một giai đoạn trong quá trình tố tụng. Tuy các cơ quan thi hành án thuộc hệ thống cơ quan hành pháp của Chính phủ, nhưng các hoạt động thực hiện bởi họ vẫn được xem xét là phần của quá trình tố tụng.
- Theo Luật Thi hành án dân sự số 64/2014/QH13, ngày 25 tháng 11 năm 2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự số 26/2008/QH12, ngoài việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án, nhưng được thi hành ngay, thì cơ quan thi hành án dân sự còn tô chức thi hành quyết định của Trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, không phải là cơ quan tư pháp, không nằm trong hệ thống các cơ quan Tư pháp và trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại các cơ quan này không phải là tố tụng tư pháp, nên kết quả của hoạt động giải quyết tranh chấp không phải là sản phẩm của quá trình tố tụng tư pháp. Do đó, việc căn cứ vào nguồn gốc công việc “đầu vào” của Cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện để xác định thi hành án dân sự là một giai đoạn của tố tụng là chưa thuyết phục. Từ những khái niệm cơ bản trên, thi hành án dân sự có thé được hiểu một cách cơ bản nhất là quá trình mà người được thi hành án (người được hưởng quyền trong bản án), người phải thi hành án (bên bị kêu gọi thi hành án), cùng với sự tham gia của cơ quan thi hành án dân sự, các tổ chức và cá nhân liên quan, thực hiện bản án hoặc quyết định của tòa án. Điều này có thể xảy ra khi họ tuân theo bản án tự nguyện hoặc dưới áp lực và quản lý của cơ quan thi hành án dân sự, đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật.
Việc này bao gồm cả việc thực hiện bản án và đảm bảo tuân thủ nội dung của bản án, quyết định hoặc phán quyết của trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. No của ngân hàng 1. Khái niệm nợ Nợ (debt), theo từ điển Kinh tế học - Dai học Kinh tế Quốc dan, là số tiền mà một cá nhân, công ty hoặc tô chức nào đó đã vay mượn từ người khác. Khoản nợ 10 này có thé phát sinh từ việc vay tiền dé mua hàng hóa, dịch vụ hoặc tài sản chính.
Nói cách khác, nợ là khoản tiền mà cá nhân hoặc tô chức (như doanh nghiệp, hợp tác xã.) đã vay mượn dé thực hiện các hoạt động kinh doanh hoặc tiêu dùng. Ngoài ra, một quan điểm khác xem xét nợ như một khoản phải trả lại, bao gồm cả số gốc, lãi suất, phí và các chi phí khác liên quan tại một thời điểm, phát sinh từ việc vay tiền theo quy định của pháp luật. Theo quan điểm này, nợ là khoản phải trả, bao gồm cả lãi suất, phí và các khoản phát sinh khác. Qua nghiên cứu các khái niệm, dựa trên hai quan điểm nêu trên có thể thấy, mặc dù có khác nhau, nhưng cả hai luồng quan điểm đều có điểm chung thống nhất đó là: (1) Nợ được sử dụng cho mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh của cá nhân hoặc tổ chức.: (2) Nợ phải được trả lại cho người cho vay tại một thời điểm xác định theo thỏa thuận.
Thời điểm này được quyết định dựa trên thỏa thuận giữa người cho vay và người vay và có thê biến đồi tùy theo thời điểm mà khoản vay được thực hiện và thời điểm quy định trả nợ. Thời gian vay có thể kéo dài hoặc ngắn tùy thuộc vào các điều khoản và thỏa thuận giữa hai bên; (3) Khoản tiền phải trả luôn ít nhất bằng khoản tiền mà người vay đã nhận từ người cho vay (trong trường hợp không có lãi xuất, phí). Tuy nhiên, thường thì khoản phải trả lớn hơn so với khoản vay ban đầu do bao gồm cả nợ gốc kèm theo lãi xuất, phí tiền vay và các chỉ phí khác liên quan đến việc vay mà người vay phải chi trả. Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát, nợ là số tién mà bên vay nhận từ bên cho vay dé đáp ứng các mục tiêu cá nhân hoặc kinh doanh, và phải hoàn trả theo thỏa thuận tại một thời điểm cụ thé, thường kèm theo lãi suất, phí và các chỉ phí khác liên quan.
Nợ có nhiều cách phân loại, tùy thuộc vào tiêu chí xem xét. Tuy nhiên, chúng có thể được chia thành bốn loại cơ bản như sau: - Nợ vay là một dạng đơn giản nhất của nợ, bao gồm một biên bản thoả thuận về việc cho vay một số tiền trong một khoảng thời gian có định và được quy định 11 thời hạn trả lại số tiền này. Trong trường hợp vay thương mại, nó còn bao gồm lãi suất, mà lãi suất này được tính dudi dang tỷ lệ phần trăm của tổng số tiền cho vay hàng năm. - Nợ của tập đoàn, còn được gọi là nợ tập đoàn, là số tiền mà tập đoàn cung cấp cho các công ty hoặc tổ chức muốn vay một số lượng lớn hơn tiền vay thông qua các nguồn cho vay cá nhân và chấp nhận mức độ rủi ro mở rộng trong quá trình vay.
Trong trường hợp này, mỗi tập đoàn ngân hàng có thể đồng ý áp dụng một tỷ lệ lãi suất có định trên tổng số tiền được vay. - Trái phiếu là một loại chứng khoán nợ được công ty hoặc chính phủ phát hành.