Chương 1. Tổng quan lý thuyết Trình bày một số cơ sở lí thuyết về pin lithium, vật liệu lithium cobalt oxide và ứng dụng của nó. Thực nghiệm Trình bày các bước tiến hành nghiên cứu thực nghiệm bao gồm: - Thu hồi vật liệu lithium cobalt oxide khảo sát ở các điều kiện nhiệt độ và thời gian khác nhau. - Các phương pháp đặc trưng của vật liệu.
Kết quả và thảo luận Trình bày các kết quả và thảo luận về các vấn đề đã thực hiện được trong phần thực nghiệm. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1.1 Cấu tạo và nguyên lí làm việc của pin Lithium - ion Pin lithium ion hiện nay bao gồm cathode, anode, chất điện phân hữu cơ và một bộ phân tách. Anode là một tấm đồng được phủ một lớp hỗn hợp than chì carbon, chất dẫn điện, chất kết dính PVDF và các chất phụ gia. Tương tự, cathode là một tấm nhôm được phủ một lớp hỗn hợp gồm chất liệu cực âm hoạt tính, chất dẫn điện, chất kết dính PVDF và các chất phụ gia.
LiCoO2 thường được sử dụng làm vật liệu cathode hoạt động cho hầu hết tất cả các LIB được thương mại hóa do các tính năng phù hợp của nó như mật độ năng lượng cao, dễ sản xuất, v. Tuy nhiên, nó cũng có một số điểm bất lợi như giá thành cao, nguồn cobalt hạn chế, tính độc hại cao. Thành phần hóa học của pin IB cơ bản [16] Thành phần % LiCoO2 27,5 Thép/Ni 24,5 Cu/Al 14,5 Carbon 16,0 Chất điện giải 3,5 Polymer 14,0 Trong quá trình sạc điện, dưới tác dụng của điện áp ngoài, các ion lithium di chuyển ra khỏi cathode (Li1 – xCoO2) qua màng ngăn đến anode (LixC6) và được giữ lại, từ đó năng lượng điện được chuyển thành năng lượng hóa học. Khi pin phóng điện, các ion lithium ở anode sẽ di chuyển ngược trở lại cathode và giải phóng năng lượng hóa học được lưu trữ thông qua việc tạo ra dòng điện bên ngoài.
Các phản ứng hóa học trong hai điện cực có thể được biểu diễn như sau: Cathode: Li1 – xCoO2 + xLi+ +xe- LiCoO2 Anode: LixC C + xLi+ + xe- 7 Phản ứng tổng quát: LixC + Li1-xCoO2 C + LiCoO2 Mô hình hệ thống pin LIB thể hiện trong Hình 1. Nguyên lí làm việc của pin lithium ion [17] 1.2 Tình hình sử dụng và thải bỏ pin LIB Ngành năng lượng đã chuyển sang sử dụng các phương tiện thay thế vì những lý do như số lượng phương tiện trên thế giới tăng lên, tài nguyên dầu mỏ giảm nhanh, chiến tranh và tỷ lệ ô nhiễm ngày càng tăng trên toàn thế giới. Xe điện được phát triển cho mục đích này đã đi đầu trong lĩnh vực sản xuất vì lượng khí thải gây ô nhiễm của chúng thấp hơn so với các phương tiện thông thường và giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ. Khi sự phổ biến của xe điện bắt đầu bùng nổ, lượng pin lithium ion đã qua sử dụng từng cung cấp năng lượng cho những chiếc xe đó cũng tăng theo.
Ngoài ra, pin lithium ion còn được sử dụng ở mọi nơi, từ công nghệ máy tính đến máy bay không người lái và các thiết bị gia dụng nhỏ. Các nhà phân tích ngành dự đoán rằng đến năm 2020, riêng Trung Quốc sẽ thải ra khoảng 500.000 tấn pin LIB đã qua sử dụng và đến năm 2030, con số trên toàn thế giới sẽ đạt 2 triệu tấn mỗi năm [95]. Số lượng pin LIB thải ra môi trường là một con số khổng lồ. Năm 2012 là 10700 tấn đến năm 2020 lượng pin thải ra là 250000 tấn và dự kiến đến 8 năm 2025 là 464000 tấn như Hình 1.
Chính vì vậy bài toán thu hồi vật liệu có lợi trong pin LIB thải và tái chế pin là một vấn đề rất cấp thiết, đang được quan tâm trên toàn cầu. Nguồn, số lƣợng và thu gom pin LIB thải bỏ [18] LIB đã qua sử dụng có thể được tái sử dụng, tái chế, chôn lấp, xử lý hoặc thải bỏ bất hợp pháp (Hình 1. Các tuyến xử lý tại địa phương phụ thuộc vào luật pháp và quy định quốc gia, năng lực tái chế, hệ thống thu gom, hành vi của người tiêu dùng và thị trường bán lẻ pin [19]. Các con ƣờng thải bỏ pin LIB [97] 9 1.3 Các loại vật liệu cathode thƣơng mại Các vật liệu cathode hiện nay đang sử dụng trong LIB gồm có 3 loại: oxide cấu trúc lớp LiMO2 (M = Co, Mn, Ni,.), spinel oxide LiM2O4, olivine phosphate LiFePO4.
Các oxide cấu trúc lớp có công thức LiMO2 được sử dụng rộng rãi nhất làm vật liệu cathode cho LIB thương mại. Vật liệu cathode ƣợc sử dụng trong IB thƣơng mại [20] Cấu trúc LiAlxCoyNi1-x- LiCoxMny- Thành phần LiCoO2 LiFePO4 LiMn2O4 yO2 Ni1-x-yO2 Mật độ năng lượng/ 624 544 410 740 592-740 Wh.kg-1 Giá vật liệu/$ 88 32 26 39 40-50 (kWh)-1 Giá của pin/$ 357 222 251 199 145-230 (kWh)-1 So với tất cả các vật liệu cathode khác, LiCoO2 sở hữu nhiều ưu điểm bao gồm độ dẫn ion Li+ và electron tốt, mật độ nén cao (4,2 g.cm-3) và tuổi thọ cao. Hơn thế nữa, LiCoO2 cũng cho thấy tiềm năng lớn về mật độ năng lượng cao. Cụ thể mật độ năng lượng của LiCoO2 là 740 Wh.kg−1 ở 4,45 V và tăng lên 840 Wh.kg−1 ở 4,55 V, tương đương với cathode giàu Li [21, 22].
Để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của các thiết bị điện tử cầm tay như điện thoại thông minh và máy tính xách tay, điện áp của pin LiCoO2 10 đã liên tục được nâng lên để đạt được mật độ năng lượng cao hơn. Tuy nhiên, một số nhược điểm bao gồm suy thoái bề mặt, hư hỏng do các giai đoạn chuyển pha và phản ứng không đồng nhất có thể xuất hiện khi sạc ở điện áp cao, dẫn đến suy giảm nhanh chóng về công suất, hiệu suất và chu kỳ. Mặt khác giá vật liệu cũng như giá pin từ vật liệu LiCoO2 đều cao hơn so với các vật liệu cathode còn lại. Vì vậy LiCoO2 được xem là vật liệu có nhiều giá trị và tiềm năng để thu hồi [23].4 Vật liệu LiCoO2 1.1 Vai trò của LiCoO2 trong pin LIB Vào năm 1979 -1980, John B.
Goodenough - giáo sư vật lí người Mỹ đã đề xuất một loại pin không điều chế từ lithium mà đi từ hợp chất của lithium là LiCoO2 làm cathode nhờ đó đã cải thiện đáng kể về hiệu suất cathode nói riêng và hiệu suất của pin LIB nói chung [24]. Vì điện cực làm việc dựa vào ion Li+ (không có Li kim loại), từ đó đã tạo ra pin lithium ion. LiCoO2 đại diện cho một bước tiến đáng kể trong lịch sử của pin LIB có thể sạc lại, vì đây là vật liệu điện cathode đầu tiên được Sony thương mại hóa vào năm 1991. Sony đã kết hợp cực âm LiCoO2 và cực dương carbon để tạo ra LIB có thể sạc lại thành công đầu tiên là ắc quy.
Hiện nay, chúng ta có thể tìm thấy loại pin này trên điện thoại di động, xe điện, máy tính bảng, máy tính xách tay và máy ảnh,.2 Cấu trúc LiCoO2 Vật liệu LiCoO2 dạng phân lớp (hình 1.4), trong đó các ion Li+ hóa trị I và Co3+ hóa trị III được sắp xếp trên các mặt phẳng xen kẽ (111). Ở nhiệt độ thấp , cấu trúc spinel lập phương được hình thành và chuyển đổi thành tam giác phân lớp ở khoảng 750 °C [25]. Vật liệu có mạng tinh thể phân lớp thể hiện hiệu suất điện hóa tốt hơn so với vật liệu có mạng lưới spinel lập phương. Cấu trúc tinh thể của LiCoO2 phân lớp được so sánh với cấu trúc 11 kiểu α – NaFeO2 với các ion lithium và cobalt lần lượt nằm ở các vị trí bát diện được phân cách bởi các lớp ion oxygen lập phương gần nhau.
Tế bào của dạng phân lớp bao gồm ba phiến của khối bát diện CoO6 được ngăn cách bởi các lớp xen kẽ của Li [26]. Sự khác biệt lớn về điện tích và kích thước giữa các ion Li+ và Co3+ dẫn đến trật tự cation tốt, điều này rất quan trọng để hỗ trợ sự khuếch tán và độ dẫn ion lithium hai chiều nhanh chóng trong mặt phẳng lithium. Sự dẫn truyền ion lithium trong mặt phẳng lithium xảy ra từ vị trí bát diện này sang vị trí bát diện khác thông qua khoảng trống tứ diện lân cận có chung các mặt với ba khối bát diện trong lớp lithium vì nó cung cấp hàng rào năng lượng thấp nhất. Với thứ tự cation tốt, tương tác Co-Co trực tiếp qua các cạnh của khối bát diện chung trong mặt phẳng cobalt cũng tạo điều kiện thuận lợi cho tính dẫn điện tử tốt; trên thực tế, Li1- 3+ 4+ xCoO2 trở thành kim loại khi sạc do có các lỗ vào Co / có độ xoáy thấp.
Khả năng ổn định cấu trúc tốt cùng với độ dẫn điện cao của ion lithium mang lại đặc tính phóng điện nhanh với khả năng đảo ngược tốt. Tuy nhiên, dải Co3+/4+ trùng với đỉnh của dải O2– như trong hình 1.4, dẫn đến sự giải phóng oxygen từ mạng tinh thể khi sạc hơn 50% với (1-x) < 0,5 ở cực âm Li1– xCoO2 [27], [28]. Do đó, mặc dù hiệu suất điện hóa tốt nhưng công suất thực tế của LiCoO2 bị giới hạn ở mức ~140 mAh.g –1 so với dung lượng lý thuyết là 280 mAh. Với thời gian chu kỳ ngày càng tăng, dung lượng pin giảm đi đáng kể, khả năng chống chịu quá tải và độ ổn định nhiệt kém.
Theo nghiên cứu của Ohzuku và cộng sự [18] nhận thấy rằng khi điện áp sạc đạt 4,5V, pha lục giác bắt đầu chuyển sang pha đơn nghiêng, điều này có liên quan đến sự biến dạng Jahn-Teller của khối bát diện CoO6. Do đó, để giảm tổn thất công suất không thể đảo ngược và duy trì nền điện áp ổn định, điện áp cắt sạc thường được giới hạn dưới 4,2V. Nhằm khắc phục những thiếu sót của LiCoO2, lớp phủ doping được sử dụng để tăng công suất, cải thiện hiệu suất chu trình và thúc đẩy sự ổn định của cấu trúc [29]. Mô hình cấu trúc tinh thể (a) và tham số ô ơn vị (b) của LiCoO2 phân lớp với nhóm không gian R-3m [30] 1.3 Các phương pháp thu hồi LiCoO2 Phương pháp thủy luyện, nhiệt luyện và tái chế trực tiếp là ba con đường chính được sử dụng để tái chế LIB đã sử dụng nói chung và thu hồi LiCoO2 nói riêng (hình 1.
Với phương pháp thủy luyện bao gồm việc sử dụng dung dịch nước để hòa tan kim loại có giá trị từ LIB đã qua sử dụng và thu hồi kim loại thông qua quá trình cô đặc và tinh chế. Nhiệt luyện là quá trình xử lí pin ở nhiệt độ cao và phân tách. Tái chế trực tiếp có nghĩa là cấu trúc vật liệu hoạt động của pin được khôi phục trực tiếp.