CHƯƠNG 1 - LÝ LUẬN • CHUNG VÈ HOẠT • ĐỘNG • HUY ĐỘNG VÓN CỦA NGÂN HÀNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VÓN 1. Những vân đê chung vê hoat động huy đông vốn của ngân hàng thương mại 7. Tông quan vê ngân hàng và ngân hàng thương mại 1. Sự hình thành và phát triển ngân hàng ♦♦♦ Trẽn thế giới Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nên sản xuất hàng hoá.
Thông qua các di tích tìm được, nhiều tài liệu cho thấy hoạt động ngân hàng đã ra đời từ 3 - 4 ngàn năm trước công nguyên. Các nghiệp vụ ngân hàng đơn giản đã xuất hiện từ thời Thượng cổ. Dưới thời Trung cổ các hoạt động ngân hàng được mở rộng tại các nước châu Ẩu, Trung Đông và Trung Hoa. Tuy nhiên từ thế kỷ XVII trở về trước, nghề ngân hàng chưa phát triển và chưa có vai trò quan trọng.
Nó chỉ là một nghề mua bán và làm dịch vụ thông thường một loại thương nghiệp giống như các loại thương nghiệp khác. Các tổ chức buôn tiền nay đêu cho vay nặng lãi và hoạt động không ôn định. Các nhà tư bản nông công thương nghiệp không chịu vay vốn của các ngân hàng vì lãi suất quá cao, nuốt hết tất cả lợi nhuận và một phần vốn tự có của họ. Họ áp dụng cách bán chịu hàng hoá cho nhau, hoặc cho nhau vay với mức lãi suất thấp hơn lãi suất bình quân.
Bên cạnh đó, họ hùn vôn với nhau lập ra các ngân hàng, hội tín dụng để cho vay vốn với mức có thể chấp nhận được. Loại ngân hàng này đã ra đời ở các thành phố Venise (Ý) - 1589, Milan (Ý) - 1593, Amsterdam (Hà Lan) - 1600, Nuremberg (Đức) - 1621. Mãi đến cuối thế kỷ XVII mới xuất hiện một ngân hàng lớn nhất thế giới đó là ngân hàng Anh ở Luân Đôn. Ngân hàng Anh là một công ty cổ phần lớn kinh doanh tm dụng tư ban VƠI mưc lãi suât cho vay là 6% năm, làm cho các ngân hàng cho vay từ thời 4 rung cô băt buộc phải hạ lãi suất theo và chuyển sang kinh doanh như các ngân hàng tư bản.
Trong suốt thể kỷ XVIII, các ngân hàng tư bản khác ở lục địa 6 châu Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ lần lượt ra đời hàng loạt. Từ giữa thế kỷ XIX trở đi, ở các nước phong kiến, thuộc địa, nửa thuộc địa mới thành lập được ngân hàng của các nước đế quốc như ngân hàng Đông Phương của Anh thành lập tại Trung Quốc, ngân hàng Đông Dương của Pháp thành lập năm 1875 tại thành phố Sài Gòn của Việt Nam. Đến cuối thế kỷ XIX (1896), giai cấp tư sản Trung Quốc thành lập ngân hàng đầu tiên của Trung Quốc là ngân hàng công thương Trung Quốc. Trong thời đại ngày nay ngoài các ngân hàng cũng có những tổ chức khác kinh doanh dịch vụ tiền tệ nhưng NHTM vẫn là tổ chức tài chính lớn nhất, quan trọng nhất.
*1* Ở Viet Nam TCTD đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là Nhà tín dụng, được thành lập năm 1951. Đây là tiền thân của NHNN Việt Nam. NHNN Việt Nam với hệ thống các chi nhánh tỉnh và chi điểm huyện, đã từng là TCTD lớn nhất và duy nhất trong hàng chục năm. Chức năng chính của NHNN Việt Nam là huy động tiền gửi của các doanh nghiệp, các cơ quan đoàn thể, các TCKT và dân cư để cho vay.
NHNN vừa là cơ quan quản lý tiền tệ tín dụng vừa là tổ chức kinh doanh không vì mục tiêu lợi nhuận. Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã được đổi mới một cách đáng kể trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Mô hình tổ chức mới này có sự thay đổi căn bản đó là tách biệt chức năng quản lý hoạt động tiền tệ, tín dụng với chức năng kinh doanh tiền tệ, đa dạng hoá các loại hình ngân hàng, từng bước xoá bỏ độc quyền, chuyển sang cạnh tranh có sự quản lý của Nhà nước. Kể từ đầu những năm 90, hệ thống các NHTM đã không ngừng phát triển về loại hình và nghiệp vụ góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước.
Bên cạnh 2 ngân hàng là Ngân hàng ngoại thương và Ngân hàng đầu tư và phát triển được hình thành từ trước đã hình thành thêm 2 ngân hàng chuyên doanh là Ngân hàng nông nghiệp và Ngân hàng công thương. Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ, hoạt động ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh. NHTM từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ yếu đã mở rộng cho vay trung và dài hạn, cho vay để đầu tư vào bất động sản. Nhiều ngân 7 hàng mở rộng cho vay tiêu dùng, kinh doanh chứng khoán, cho thuê.
Các hình thức huy động cũng ngày càng phong phú. Các loại hình tiền gửi khác nhau được đưa ra nhăm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh các hình thức huy động tiền gửi, các ngân hàng đã mở rộng hình thức vay như vay NHTW, vay các ngân hàng khác. Công nghệ ngân hàng đang góp phần làm thay đổi các hoạt động cơ bản của ngân hàng.
Thanh toán điện tử đang thay thế dần thanh toán thủ công, đẩy nhanh tốc độ, tính thuận tiện, an toàn trong thanh toán. Các loại thẻ đang thay thế dần tiền giấy và dịch vụ ngân hàng 24 giờ, dịch vụ ngân hàng tại nhà đang tạo ra các tiện ích ngày càng lớn cho dân chúng. Khái niệm ngân hàng thương mại NHTM là một trong những loại hình doanh nghiệp lâu đời, đặc biệt và phức tạp trong nền kinh tế. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện, ở mỗi nước có một cách định nghĩa riêng vê NHTM.
Ví dụ: ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Ở An Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư. ở Thồ Nhĩ Kì: NHTM là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hỉnh thức vay mượn khác.
Ở đây, cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương tiện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. N H T M là c á c tổ c h ứ c tà i c h ín h c u n g c ấ p m ộ t d a n h m ụ c c á c d ịc h v ụ tà i c h ín h đ a d ạ n g n h ấ t - đ ặ c b iệ t là tin d ụ n g , tiê t k iệm , d ịc h v ụ th a n h to á n v à th ự c h iệ n n h iề u c h ứ c n ă n g tà i c h ín h n h ấ t so v ớ i b ấ t k ỳ m ộ t tổ c h ứ c k in h d o a n h n à o tr o n g n ề n k in h tế. Một sổ định nghĩa dựa trên các hoạt động chủ yếu. Ví dụ, theo luật các TCTD Việt Nam thì: “Ngân hàng là một 8 loại hình TCTD được phép thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”.
Trong đó, hoạt động ngân hàng được giải thích tại Luật NHNN là “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Có thể nói, NHTM là định chế tài chính quan trọng nhất trong hệ thống trung gian tài chính. Chức năng của ngân hàng thương mại ❖ Trung gian tải chính Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của NHTM. Nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Trung gian tài chính là hoạt động “câu nôi” giữa cung và cầu vốn trong xã hội, khơi nguồn vốn từ những người có thê vì lý do gì đó không dùng nó một cách sinh lợi sang những người có ý muốn dùng nó để sinh lợi. Như vậy, NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, nghiệp vụ tín dụng của NHTM là đi vay để cho vay. Đó chính là một nét đặc thù chính của ngân hàng khi đóng vai trò trung gian. Vai trò này càng trở nên phong phú hơn như việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu, phát hành chứng chỉ tiền gửi và hiện nay là tiền gửi tiết kiệm có xổ số,.
cũng được coi như là những hình thức thu thập nguồn vốn. Bên cạnh đó, ngân hàng còn làm trung gian giữa người đầu tư và người cần vay vôn trên thị trường. Những trung gian tài chính làm việc này để kiếm lời bằng việc đặt một lãi suất cao hơn cho các món vay so với món lãi họ thanh toán cho người cho vay (là người tiết kiệm). Rõ ràng, do hoạt động trong quá trình tài chính gián tiếp, những trung gian tài chính có thể làm lợi cho phần lớn những người có món tiết kiệm nhỏ bằng việc đem lại cho họ thu nhập tiền lãi cao và có thể giúp những người vay các món tiền nhỏ này có thể vay được tiền vốn mà họ không có cách nào khác để có được.
Ngoài ra, đối với người vay món tiền lớn cũng hưởng lợi, bởi vì quá trình trung gian tài chính tập trung được nhiều vốn hơn cho người vay trong thị trường tài chính. 9 *t* Trung gian thanh toán Chức năng trung gian thanh toán gắn bó chặt chẽ và hữu cơ với chức năng trung gian tín dụng: ngân hàng dùng số tiền gửi của người này để cho người khác vay. Xuất phát từ vai trò là người thủ quỹ của doanh nghiệp, ngân hàng có đủ điều kiện để thực hiện các dịch vụ thanh toán theo sự uỷ nhiệm của khách hàng.