Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Tuy Phƣớc Chương 3: Hiện trạng thoái hóa đất và một số giải pháp sử dụng hợp lý đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Tuy Phƣớc 7 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ THOÁI HÓA ĐẤT TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1. Trên thế giới Trƣớc thực trạng tài nguyên đất ngày càng có dấu hiệu suy thoái, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến việc sản xuất nông nghiệp, đe dọa đến an ninh lƣơng thực trên toàn cầu, hƣớng nghiên cứu thoái hóa đất đã dần trở thành một xu hƣớng nghiên cứu trong khoa học đất và đƣợc xem làm một công cụ đặc lực cho công tác quản lý, quy hoạch và sử dụng đất bền vững. Đến nay, đã có rất nhiều chƣơng trình, kế hoạch hành động đƣợc triển khai nhằm nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đƣa ra biện pháp hạn chế, phục hồi đất thoái hóa, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng, điều phối và giải quyết các mâu thuẫn trong khai thác tài nguyên đất, điển hình: Năm 1976, Chƣơng trình nghiên cứu, đánh giá suy thoái đất của FAO đã khẳng định: 25% diện tích đất trên thế giới đang “thoái hóa nghiêm trọng”, 8% diện tích đất bị thoái hóa ở mức trung bình, 36% bị thoái hóa nhẹ.
Trong khi đó, diện tích đất đƣợc cải thiện chất lƣợng chỉ chiếm 10%. Đồng thời, báo cáo của FAO cũng cho biết các biện pháp canh tác hiện nay của con ngƣời thƣờng dẫn tới tình trạng xói mòn đất và lãng phí nƣớc khiến năng suất cây trồng giảm [22]. Kể từ nghiên cứu của FAO, rất nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá suy thoái đất đƣợc thực hiện nhằm phục vụ công tác quản lý tài nguyên đất. Năm 1979, FAO tiếp tục phối hợp với UNEP, UNESCO, WMO và ISSS tổ chức hội nghị đánh giá về thoái hoá đất tại Rome (Ý).
Tại đây, nhiều chuyên gia đƣa ra phƣơng pháp đánh giá thoái hóa đất dựa trên việc thu thập các dữ liệu, các đặc trƣng của yếu tố môi trƣờng tác động đến quá trình thoái hoá nhƣ: khí hậu, thảm thực vật, đặc trƣng đất đai, điều kiện hình thành, loại hình sử dụng, công tác quản lý đất [22]. Đồng thời, trong 4 năm tiếp theo sau đó, FAO, UNESCO và UNEP đã tiến hành xây dựng đƣợc các bản đồ thoái hoá đất tiềm năng ở tỉ lệ 1:1.000 cho khu vực Bắc Phi, Trung Cận Đông. Các bản đồ này thể hiện đƣợc nguy cơ thoái hoá đất do xói mòn, 8 nhiễm mặn, nhiễm phèn [21]. Năm 1982, một hội nghị về chất lƣợng môi trƣờng và bảo vệ tài nguyên đất đƣợc tổ chức tại New Dehli (Ấn Độ) do Hội khoa Học đất thế giới (ISSS) tiến hành.
Hội nghị đã đề cập nhiều đến công tác đánh giá thực trạng thoái hoá đất và những tác hại, rủi ro do thoái hoá đất ảnh hƣởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp. Từ năm 1987 - 1990, dự án quốc tế - Đánh giá suy thoái đất toàn cầu (GLASOD), do Trung tâm nghiên cứu và thông tin quốc tế (ISRIC) dƣới sự bảo trợ của UNEP đã nỗ lực thực hiện trong khoảng thời gian 3 năm. Kết quả nghiên cứu của dự án tập trung vào 2 nội dung chính, gồm: Xây dựng bản đồ thực trạng thoái hoá đất thế giới ở tỉ lệ 1: 10.000 và đánh giá chi tiết thực trạng thoái hoá đất và các hậu quả, rủi ro cho các khu vực nghiên cứu ở Mỹ La Tinh (Argentina, Brazil và Uruguay), xây dựng bản đồ thoái hoá tỉ lệ 1: 1. Đồng thời, dự án đánh giá những ảnh hƣởng thoái đất đất do con ngƣời gây ra, trên cơ sở phân tích các đặc trƣng tự nhiên, kết hợp với kinh nghiệm của các chuyên gia.
Đây là một cơ sở khoa học rất quan trọng cho các kế hoạch phục hồi tài nguyên đất và quản lý đất đai [20]. Ngoài những nghiên cứu mang tính chất quy mô toàn cầu, thoái hóa đất còn đƣợc nghiên cứu chi tiết cho các khu vực, quốc gia và vùng lãnh thổ, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau: Dự án đánh giá thực trạng thoái hóa đất vùng Nam và Đông Nam Á (ASSOD) (FAO và ISRIC, 1994 - 1997); Dự án đánh giá thoái hóa đất vùng Trung và Đông Âu (SOVEUR) (FAO và ISRIC, 1997-2000); Dự án đánh giá thoái hóa đất các vùng khô hạn (LADA) ở 6 nƣớc: Argentina, Trung Quốc, Cuba, Senegal, Nam Phi và Tunisia (FAO và GEF, 2002-2008); Đánh giá thoái hóa đất ở Togo (ORSTOM, 1991 – 1994). Lập bản đồ thoái hóa đất thế giới (Gibbs H. Đồng thời, nhiều tác giả cũng đã đƣa ra các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể, phân tích các nguyên nhân gây thoái hóa đất, làm cơ sở cho đề xuất các biện pháp phục hồi, bảo về tài nguyên đất.
Điển hình là tuyển tập các công trình nghiên cứu của 72 tác giả khác nhau công bố trên Springer Science Business Media New York, 2013 về Đánh giá và lựa chọn các chỉ số cho giám sát xuống cấp và sa 9 mạc hóa đất đai cho theo dõi suy thoái đất và sa mạc hóa từ quy mô toàn cầu đến quy mô rất địa phƣơng. Trong đó, nhiều quá trình suy thoái và sa mạc hóa đất đai đã đƣợc phân tích tại 17 địa điểm nghiên cứu trên khắp thế giới bằng cách sử dụng một loạt các chỉ số phân tích điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội. Phân tích này đã chỉ ra các chỉ số quan trọng nhất là: (1) thời tiết mƣa ảnh hƣởng đến xói mòn nƣớc, áp lực nƣớc và cháy rừng, (2) độ dốc ảnh hƣởng đến xói mòn nƣớc, xói mòn đất và áp lực nƣớc, và (3) khan hiếm nƣớc mặn, căng thẳng về nƣớc và cháy rừng. Việc thực hiện các quy định hoặc chính sách hiện hành liên quan đến phát triển tài nguyên và bền vững môi trƣờng đƣợc xác định là chỉ số q uan trọng nhất của bảo vệ đất.
Có thể nhận thấy, trƣớc sự biến đổi mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên theo chiều hƣớng bất lợi do tác động từ các hoạt động dân sinh và các tai biến thiên nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá tình trạng và các dạng thoái hóa đất phục vụ cho công tác quản lý và sử dụng tài hợp lý tài nguyên đất luôn là một yêu cầu bức thiết của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam Ở nƣớc ta, các công trình nghiên cứu thoái hóa đất đƣợc bắt đầu khá sớm, từ cuối những năm 1960 đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu thoái hóa tài nguyên đất và đề xuất các biện pháp sử dụng, cải tạo và phục hồi đất thoái hóa. Có thể khái quát thông qua một số giai đoạn sau: - Trước năm 1960: Trong thời kì này, hàng loạt các công trình chống thoái hóa đất đƣợc xây dựng chủ yếu từ kinh nghiệm sản xuất của ngƣời nông dân nhƣ dựng các công trình trên đất dốc bằng gỗ chắn, xây dựng ruộng bậc thang của cộng đồng dân cƣ dân tộc H'Mông, Dao,. ở vùng Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam.
Hầu nhƣ chƣa có các công trình là cơ sở khoa học trong nghiên cứu thoái hóa đất. - Từ 1960 – 1975: Trong thời kỳ này, nhiều công trình nghiên cứu về thoái hóa đất bắt đầu đƣợc chú ý thực hiện, tuy nhiên tập trung chủ yếu là nghiên cứu, phân loại thoái hóa đất nhằm tìm ra bản chất, điều kiện phát sinh, đặc điểm của mỗi loại thoái hóa, từ đó đƣa ra biện pháp sử dụng, cải tạo và phục hồi đất. Đầu những 10 năm 70, có những công trình nghiên cứu của Bùi Quang Toản, Vũ Cao Thái, Vũ Văn Thân.đánh giá đất đai và cải tạo đất ở một số huyện, vùng chuyên canh phục vụ tổ chức sản xuất. Đặc biệt là vào năm 1980 có công trình đo đạc xói mòn đất dốc của Nguyễn Quang Mỹ ở Tây Nguyên [13].
Các công trình nghiên cứu cải tạo đất bạc màu, đất chua mặn đã đƣợc tiến hành. Qua thống kê đất đai cho thấy nhiều đơn vị đất có vấn đề thoái hoá xuất hiện nhƣ đất xói mòn trơ sỏi đá, đất bạc màu, đất mặn, đất phèn, đất cát, đất lầy.Diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng gia tăng do sử dụng không hợp lý đất hoang hoá, thoái hoá lan rộng từ đồng bằng ven biển đến vùng núi và cao nguyên, ngay cả những cao nguyên đất đỏ bazan Tây Nguyên vốn có độ phì cao cũng rơi vào tình trạng suy thoái và hoang hoá [13]. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết đƣợc nhiều vấn đề về xói mòn đất và đề xuất đƣợc các biện pháp chống thoái hóa đất. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu có tính định lƣợng chƣa cao.
- Từ sau năm 1975: Từ năm 1977, các đề tài nghiên cứu thoái hóa đất do xói mòn bắt đầu đƣợc triển khai trong nhiều chƣơng trình khoa học cấp Nhà nƣớc nhƣ chƣơng trình Tây Nguyên, Tây Bắc, v.v và cũng đã bắt đầu đi sâu nghiên cứu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố tự nhiên đến xói mòn với phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng và có sức thuyết phục hơn, do quan trắc, cân đo, phân tích chính xác. Điển hình: Công trình đo đạc xói mòn đất dốc của Nguyễn Quang Mỹ ở Tây Nguyên (1980) [13], các công trình nghiên cứu thoái hóa đất theo quan điểm địa lý tự nhiên tổng hợp của Nguyễn Đình Kỳ và cộng sự (1987, 1990, 1998, 2007); công trình nghiên cứu thoái hóa đất và đề xuất các biện pháp cải tạo, phục hồi đất của Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1998, 1999, 2002), v. Đặc biệt, trong năm 2012, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng [6] đã ban hành Thông tƣ quy định kỹ thuật Điều tra thoái hóa đất, bao gồm 2 phần với 3 chƣơng, quy định tƣơng đối chi tiết quy trình điều tra thoái hóa đất và các yêu cầu trong thành lập bản đồ thoái hóa. Năm 2015, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng ban hành Thông tƣ 60/ 2015/TT-BTNMT về Quy định điều tra đánh giá đất đai, trong đó chú 11 trọng điều tra chất lƣợng đất, ô nhiễm môi trƣờng đất.
Đây là những cơ sở khoa học và pháp lý hết sức quan trọng cho công tác nghiên cứu, đánh giá thoái hóa đất trên toàn quốc. Trên cơ sở đó, nhiều chƣơng trình nghiên cứu khoa học công nghệ trọng điểm, dự án về đánh giá thoái hóa đất đƣợc chú trọng triển khai thực hiện trong giai đoạn gần đây. Đáng chú ý công trình nghiên cứu tổng hợp thoái hóa đất, hoang mạc hóa ở Tây Nguyên của Lƣu Thế Anh (2011- 2014) [12].