Chương 1: Phong Lê với quá trình 30 năm nghiên cứu về thơ văn Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Chương 2: Cách tiếp cận thơ văn Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh của nhà NCPB Phong Lê. Chương 3: Một số đặc điểm về nghệ thuật trong quá trình nghiên cứu thơ văn Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cuả Phong Lê. Phần Kết luận Tài liệu tham khảo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 PHONG LÊ VỚI QUÁ TRÌNH 30 NĂM NGHIÊN CỨU VỀ THƠ VĂN NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH Trong số những gương mặt tiêu biểu của chuyên ngành NCPB văn học.
Ở nước ta từ sau thời kỳ Đổi mới (1986) đến nay, nhà NCPB văn học Phong Lê để lại ấn tượng sâu sắc đối với những người quan tâm tới đời sống văn học nước nhà. Ông là một chuyên gia trong lĩnh vực NCPB văn học Việt Nam hiện đại và là một trong số những người có quá trình nghiên cứu về thơ văn Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh bền bỉ và sâu sắc ở nước ta hiện nay. Con ngƣời và sự nghiệp NCPB văn học của Phong Lê 1. Vài nét về nhà NCPB văn học Phong Lê Nhà NCPB văn học Phong Lê có tên khai sinh là Lê Phong Sừ.
Ông sinh ngày 10-11-1938 tại Sơn Trà - Hương Sơn – Hà Tĩnh, hiện nay ông đang sống tại Hà Nội. Phong Lê được sinh trưởng trong một gia đình có người cha làm nghề dạy học. Cha ông là một thầy giáo trường làng, một người chăm lo cho sự học của con cháu trong nhà trong họ, trong làng xóm một cách tự nhiên, không gò bó, đe nẹt theo lối của các nhà Nho xưa. Đối với ông, người cha đóng vai trò quan trọng trong con đường học hành và lập nghiệp của ông, đó là người tạo một khởi động quyết liệt cho ông từ một cậu bé trường làng trở thành người sinh viên ở Hà Nội vào năm 1956.
Mẹ ông là con một nhà Nho nổi tiếng trong vùng nhưng chịu khó, chịu khổ, lam lũ, tần tảo để nuôi chồng nuôi con. Ông được thừa hưởng tính cách mạnh mẽ, quyết liệt từ người cha và sự bền bỉ cần cù của người mẹ. Với sự hiểu biết, sự hy sinh cùng những quyết tâm trong chí hướng giúp con lập nghiệp của các bậc sinh thành ra mình, Phong Lê đã may Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 12 mắn trong học hành và đi theo con đường nghiên cứu văn chương mà ông đã lựa chọn. Làng quê của ông là một xóm nghèo ven chân núi Mồng Gà của Sơn Trà - Hương Sơn – Nghệ Tĩnh, một làng quê hẻo lánh của dải đất miền Trung nép mình giữa núi và biển, quanh năm khắc khổ trong nắng gió, lụt bão.
Ở đó có dòng sông La, có ngã ba Linh Cảm đã đi vào những bài ca sống mãi cùng năm tháng mà mỗi lần có dịp về quê Phong Lê thường dầm chân lâu trong dòng nước mát để cảm nhận được tình quê trong đó. Đó là mảnh đất được nhiều người biết đến bởi ở đó có những con người lam lũ, cần cù, nhọc nhằn trong kiếm sống và có truyền thống hiếu học. Đặc biệt, Hà Tĩnh được coi là mảnh đất có duyên với văn chương. Nơi đây có bao trí thức lên đường lập nghiệp trong đó có rất nhiều người trở thành nhà thơ, nhà văn mà tên tuổi của họ đã trở nên quen thuộc trong nền văn học dân tộc như: Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Huy Cận, Xuân Diệu, Chính Hữu….
Đó là nơi Phong Lê đã gắn bó, là nơi chứa đầy kỷ niệm buồn vui của một thời niên thiếu ở ông về cuộc sống nghèo khó hằn sâu trong những con người nơi đây, qua những thăng trầm của lịch sử đất nước. Phong Lê mang trong mình những truyền thống tốt đẹp của quê hương, đó là một hành trang quý đối với ông trong cuộc sống và trong công việc. Sinh ra và lớn lên từ Hà Tĩnh nhưng Phong Lê lại lập nghiệp và trưởng thành ở Thủ đô ngàn năm văn hiến. Đối với ông Hà Nội là quê hương thứ hai, là mảnh đất đem lại cho ông một sự nghiệp của cả một đời người.
Ông đã từng tâm sự: “Nếu không ở Hà Nội, không có những tên tuổi mình từng quí chuộng và ngưỡng mộ và viết ở Hà Nội, không có thầy và bạn bè ở Hà Nội, không có những đam mê và quyến rũ ở Hà Nội …, nhất định không có những trang viết nói hộ cho tôi biết bao điều về một sự nghiệp tôi nguyện chung thuỷ suốt hơn 40 năm qua” [18,tr. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 Có thể nói hai miền quê yêu dấu, quê sinh và quê ở đã tạo nên một nhà NCPB văn học Việt Nam danh tiếng, có những đóng góp lớn cho sự nghiệp NCPB văn học Việt Nam hiện đại nói chung và sự phát triển của Viện Văn học nói riêng ở chỗ trong vai trò là một chuyên gia NCPB văn học và lãnh đạo Viện, Phong Lê đã góp phần đưa Viện Văn học thành một địa chỉ tin cậy, hấp dẫn đối với giới khoa học và bạn đọc nói chung. Tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội vào năm 1959, Phong Lê về công tác tại Viện Văn học ngay cuối năm đó. Từ khi nhận công tác đến nay ông luôn gắn bó chung thuỷ với Viện Văn học.
Đối với ông Viện Văn học là nơi chứng kiến sự trưởng thành của ông, theo Phong Lê, đó là mái nhà ấm cúng đầy tin tưởng trong cuộc sống và trong công việc của ông. Ông đã tâm sự rằng: “Viện là nơi tôi trưởng thành. Nơi tôi có nhiều thế hệ bạn bè, trong đó cũng còn lưu lại một số người thầy đáng quý như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh…, qua họ tôi tu dưỡng nghề nghiệp. Và đặc biệt qua họ tôi học cách viết văn sao cho có ý tưởng mới mẻ và có giọng điệu trong văn” [19, tr.
Trong suốt hơn 40 năm công tác tại Viện Văn học, ông đã có nhiều đóng góp, cống hiến trong lĩnh vực khoa học cả về chuyên môn và công tác quản lý đối với Viện Văn học nói riêng và đối với lĩnh vực NCPB văn học Việt nam hiện đại nói chung. Năm 1968, Phong Lê được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam. Ông là tổng biên tập Tạp chí Văn học lâu năm ở Viện và giữ cương vị Viện trưởng Viện Văn học suốt bẩy năm liền, từ năm 1988 đến năm 1995. Ông là hội viên Hội Văn học Việt Nam từ năm 1979.
Năm 1984 ông nhận học hàm Phó Giáo sư ở tuổi 46 và đến năm 1991 nhận học hàm Giáo sư. Năm 2005 Phong Lê được vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về Khoa học, một giải thưởng cao quý đối với những người làm công tác nghiên cứu khoa học nói chung. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 Phong Lê đã từng tham gia giảng dạy ở nhiều trường Đại học trong cả nước, đặc biệt là giảng dạy hệ đào tạo sau Đại học. Tính đến năm 2006, ông đã hướng dẫn thành công trên 30 luận văn Thạc sĩ, 15 luận văn Tiến sĩ.
Trong số những học trò của ông có nhiều người trưởng thành trong lĩnh vực khoa học cũng như lĩnh vực quản lý trong và ngoài Viện Văn học. Nếu ai đã có dịp gặp gỡ hoặc tiếp xúc với Phong Lê thì đều nhận thấy ở ông một con người đôn hậu, bộc trực, giản dị, chân thành. Còn trong công việc ông là người chí thú say mê, có trách nhiệm cao ở mọi lĩnh vực, mọi vị trí. Là một biên tập viên, ông không ngừng học hỏi ở các bậc tiền bối như Hoài Thanh, Nam Mộc (bút danh Sơn Tùng), Vũ Đức Phúc… và say sưa tâm huyết với công việc.
Khi trở thành Tổng biên tập ông luôn trăn trở với trách nhiệm của mình là để Tạp chí phát triển sao cho phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội và nhu cầu của người đọc. Với cương vị Viện trưởng Viện Văn học, trong trách nhiệm của người quản lý ông đặc biệt quan tâm tới sự phát triển của Viện theo hướng chuyên môn. Với công việc của một nhà NCPB văn học, ông coi đó là một nghề – nghề viết, và ông đi cùng với nó, cùng những nhọc mệt và nguồn vui. Gần 50 năm qua, Phong Lê “tận tâm tận lực”, “cày xới trên cánh đồng học thuật văn chương nước Việt” và ông chuyên sâu nghiên cứu phần văn học Việt Nam hiện đại.
Với niềm đam mê tìm tòi, với trách nhiệm và tâm huyết của người say nghề nghiệp, ông đã thực hiện nghiêm túc công việc của một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp. Với ông viết là một thứ lao động vất vả, dầy công và là niềm vui, đòi hỏi người viết phải có thái độ nghiêm túc. Đến nay bước vào tuổi 70 nhưng ông vẫn miệt mài đam mê trên các trang viết. Sự say mê nhiệt tình trong công việc đã giúp ông tích luỹ được vốn kinh nghiệm nghề nghiệp lớn, tạo được niềm vui trong cuộc sống, trong nghiên cứu khoa học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 15 Ta bắt gặp trong Phong Lê một tư thế chủ động trong công việc đặc biệt là công việc nghiên cứu văn chương. Chính sự chủ động đó đã tạo nên thành công trong các công trình NCPB văn học của ông. Công việc của một người NCPB văn học đem đến cho Phong Lê niềm vui lớn. Viết đã trở thành niềm đam mê hứng khởi, thành định hướng cho một đời nghề nghiệp của ông.
Ông tâm sự: “Ở đời như bất cứ ai mỗi người đều phải chọn cho mình lấy một nghề, tuỳ theo ham thích và khả năng của mình, khi thấy nghề đó là một cần thiết của xã hội. Cũng như mọi người, tôi đã chọn một nghề và tôi đi cùng với nó”. Phong Lê đã trở thành một nhà NCPB văn học Việt Nam hiện đại có những thành tựu lớn đóng góp cho sự phát triển của ngành NCPB văn học Việt Nam và nền văn học nước nhà. Vài nét về sự nghiệp NCPB văn học của Phong Lê Bước vào nghề từ đầu năm 1960 cho đến nay, Phong Lê gắn bó và trở thành cây bút NCPB văn học Việt Nam hiện đại tiêu biểu, nhất là sau thời kỳ Đổi mới đến nay.
Trước thời kỳ Đổi mới, cùng với văn học nói chung, ngành NCPB văn học phát triển theo sự định hướng của Đảng, nhằm hướng tới một nền văn học mới phù hợp với dân tộc và thời đại.