Chương 1: Tìm hiểu vấn đề và đề xuất giải pháp thiết kế. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về cảm biến khí và lựa chọn cảm biến đo O2 và H2S. Chương 3: Thiết kế thiết bị và kết quả thực nghiệm. 11 Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.ng và toàn thể thầy cô trong bộ môn Tự Động Hóa đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Do thời gian, kiến thức và kinh nghiệm có hạn, hơn nữa thiết bị này còn đang trong giai đoạn nghiên cứu cho nên còn nhiều vấn đề cần được hoàn thiện. Tôi rất mong nhận được sự góp ý giúp đỡ của thầy cô và bạn bè đồng nghiệp quan tâm đến nghiên cứu này. Hà Nội, ngày tháng năm Học viên thực hiện Phm Quang Trung 12 C 1: TÌM HIU V XUT GII PHÁP THIT K 1. Ngun li hi sn + Cá biển có 2038 loài với 4 nhóm sinh thái chủ yếu: nhóm cá nổi 260 loài, nhóm cá gần tầng đáy 930 loài, nhóm cá đáy 502 loài và nhóm cá rạn san hô 304 loài.
Nhìn chung nguồn lợi cá biển có thành phần loài đa dạng, kích thước cá thể nhỏ, tốc độ tái tạo nguồn lợi cao. Cá biển ở vùng biển VN thường sống phân tán, ít kết đàn; nếu có kết đàn thì kích thước đàn không lớn. Tỷ lệ đàn cá nhỏ (có kích thước dưới 100 m2 ) chiếm tới 82% tổng số đàn cá, các đàn cá vừa (200 m 2 ) chiếm 15% và các đàn cá lớn (trên 1. Số đàn cá mang đặc điểm sinh thái vùng gần bờ chiếm 68%, các đàn cá mang tính đại dương chỉ chiếm 32%.
Trong đó: - 130 loài cá có giá trị thương mại, 30 loài cá thường xuyên được đánh bắt. - Trữ lượng: 4,2 triệu tấn; sản lượng khai thác tối đa bền vững : 1,7 triệu tấn/năm. Sự phân bố trữ lượng cá ở các vùng biển như sau: Vịnh Bắc bộ: trữ lượng 681.200 tấn; khả năng cho phép khai thác 272. Vùng biển miền Trung: trữ lượng 606.400 tấn; khả năng cho phép khai thác 242.
Vùng biển Ðông Nam bộ: trữ lượng 2.900 tấn; khả năng cho phép khai thác 830. Vùng biển Tây Nam bộ: trữ lượng 506.700 tấn; khả năng cho phép khai thác 202. + Giáp xác có 1640 loài;quan trọng nhất là các loài trong họ tôm he, tôm hùm, cua biển. Khả năng khai thác 50.
+ Nhuyễn thể có trên 2500 loài, quan trọng nhất là mực, sò điệp, nghêu… Khả năng khai thác mực 60. + Rong biển có trên 650 loài; có 90 loài có giá trị kinh tế; trong đó rau câu, rong mơ có ý nghĩa lớn. Trữ lượng rau câu, rong mơ khoảng 45. + Bên cạnh đó còn nhiều đặc sản quý như bào ngư, đồi mồi, ngọc trai… Nhìn chung nguồn lợi thủy sản ven bờ (dưới 30m sâu nói chung và 50m ở vùng biển miền Trung nói riêng) bị lạm dụng và khai thác quá nhiều, trong khi nguồn lợi thủy sản xa bờ còn lớn nhưng chưa khai thác hết.
Đánh cá xa bờ tạm thời quy định là đánh cá ở vùng biển được giới hạn bởi đường đẳng sâu 30m từ bờ biển trở ra đối với vùng biển Vịnh Bắc Bộ, Đông và Tây Nam Bộ, Vịnh Thái Lan; đường đẳng sâu 50m từ bờ biển trở ra đối với 13 vùng biển miền Trung. Tàu đánh cá xa bờ là tàu có lắp máy chính, công suất từ 90CV trở lên. Ước tính đến năm 2017, tổng số tàu cá trên toàn quốc là 110.950 tàu, trong đó tàu khai thác có 108.619 chiếc (chiếm 97,89%); tàu dịch vụ hậu cần 2. Thực hiện mục tiêu hiện đại hóa tàu cá, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 7/7/2014 về một số chính sách phát triển thủy sản và Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg về một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa đã hỗ trợ ngư dân vay vốn tín dụng đóng mới nâng cấp tàu cá.
Nhờ đó, số lượng tàu cá khai thác xa bờ công suất lớn hơn 90CV từ 22.000 chiếc (năm 2012) đã tăng lên 33.625 tàu cá có công suất lớn hơn 400CV. Đặc biệt, có khoảng 332 tàu là các tàu vỏ thép có công suất trên 800CV đã được ngư dân đầu tư đóng mới, trang bị đầy đủ về an toàn và từng bước hiện đại hóa các trang thiết bị khai thác. Theo Tổng Cục Thống kê Việt Nam thì tống số lượng tàu thuyền đánh bắt cá trên 90CV qua các năm được thống kê lại như bảng 1. Số tàu khai thác thủy sản biển có công suất từ 90 CV trở lên phân theo khu vực 2012 2013 2014 2015 2016 C c 22566 25456 27679 28719 30976 ng bng sông Hng 975 1009 1160 1331 1487 Bc Trung B và Duyên hi 11165 13415 15068 16068 17732 min Trung 2655 2567 2637 2657 2602 ng bng sông Cu Long 7771 8465 8814 8663 9155 Hình 1.
Biểu đồ cột số tàu khai thác thủy sản biển có công suất từ 90 CV trở lên phân theo khu vực 14 c. Nhng tai nn hc xy ra g Theo thống kê hàng năm, lượng tàu thuyền đánh bắt xa bờ ngày một tăng lên nhưng kiến thức cùng với trang thiết bị bảo hộ an toàn lao động lại không được chú trọng. Điều đó khiến cho có nhiều vụ tai nạn thương tâm xảy ra. Đặc biệt là nhiều vụ ngộ độc khí độc trong hầm bảo quản thủy sản của tàu cá.
Gần đây, thường xuyên xảy ra nhiều tai nạn chết người khi có người xuống hầm cá làm việc ở nhiều địa phương được thống kê như bảng 1. Thống kê một số tai nạn hầm cá những năm gần đây Thi gian V vic 27/09/2013 Vào hồi 20 giờ, tại hầm cá tàu mang biển kiểm soát KG-93870 do ông Nguyễn Tặng ở Kiên Giang làm chủ xảy ra vụ tai nạn ngộ độc khí khiến 2 người chết và 3 người hôn mê.[1] 23/04/2015 Vào hồi 8 giờ, trong hầm chứa cá của tàu BV 98569 do anh Đỗ Văn Tâm ở Vũng Tàu làm chủ xảy ra vụ ngộ độc ngạt khí khiến cho 4 người tử vong.[2] 21/06/2015 Vào lúc 5 giờ, trên tàu đánh bắt cá của ông Bạch Lúa ở vùng biển Vũng Tàu xảy ra vụ tai nạn ngạt khí ở hầm chứa thủy sản khiến 1 người tử vong.[3] 23/10/2015 Vào khoảng 19 giờ, tàu cá BT-99137TS do anh Lê Minh Tuấn điều khiển trên vùng biển tỉnh Bến Tre xảy ra vụ tai nạn ngạt khí độc hầm cá khiến 1 người thiệt mạng và 2 người khác hôn mê.[4] 15/8/2016 Tại bến cá Ba Hòn huyện Kiên Lương, Kiên Giang, khoảng 0 giờ, trên tàu đánh bắt cá cơm của ông Trần Trung Hiếu có 1 người chết do ngạt khí độc ở hầm chứa thủy sản.[5] 17/3/2017 Vào khoảng 6 giờ, tàu cá BV 92222 TS do ông Huỳnh Minh Tân làm thuyền trưởng đang trên đường chạy vào huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì xảy ra tai nạn trong hầm cá khiến 2 người bị ngạt khí chết.[6] Kt luu v nguyên nhân dn tai nn chi hm cá: Nguyên nhân là do những hầm cá hoạt động lâu ngày, điều kiện vệ sinh trong hầm không đảm bảo dẫn đến vi sinh vật có điều kiện tích tụ rồi phân hủy; đồng thời tương tác với phân urê, muối nitrit… mà ngư dân dùng để bảo quản thủy sản, chuyển hóa các chất hữu cơ làm bốc lên khí độc và làm cho hầm cá thiếu oxy. Người xuống hầm cá lúc này sẽ không có oxy để thở và hít phải hơi khí độc dẫn đến ngộ độc. Đây là loại ngộ độc cấp 15 tính.
Khi bị ngộ độc, ban đầu nạn nhân có cảm giác hô hấp bị kích thích như thở nhanh hơn, sau đó thở chậm dần và lịm đi do ngạt khí. Tìm nguyên nhân chính xác gây ra tai nn hm cá Theo đánh giá của Tổng cục Thủy sản, hiện nay ngư dân vẫn thích dùng tàu vỏ gỗ hơn so với tàu vỏ thép hoặc tàu composite. Số lượng tàu đánh cá vỏ gỗ gần như chiếm tuyệt đối (như hình 1. Lý do giải thích cho việc này là: - Đầu tư tàu vỏ thép và sắm đồ nghề đánh bắt khoảng 9 tỉ đồng, đối với tàu vở composite là khoảng 12 tỉ đồng; trong khi đó,nếu đóng tàu gỗ hết chừng 4,5-5 tỉ đồng nhưng vẫn hiệu quả.
- Để di chuyển con tàu vỏ thép 750CV thì lượng nhiên liệu tiêu hao cao hơn nhiều so với tàu gỗ hay tàu composite lắp máy 400-650CV; chưa kể việc bảo dưỡng tàu vỏ thép cũng phức tạp và tốn kém hơn. - Việc bảo quản và vận hành tàu vỏ thép cũng cần phải có kiến thức nhất định. Trong khi đó, hiện nay, nhiều ngư dân chỉ đánh bắt bằng kinh nghiệm thực tế nên sẽ khó tiếp cận với các trang thiết bị hiện đại. - Tàu vỏ gỗ rất phù hợp để làm nghề đánh bắt liên quan đến các loại lưới.
Bởi vì khi kéo lưới độ ma sát giữa lưới với tàu gỗ nhẹ hơn so với tàu thép nên đồ nghề đánh bắt lâu hư hỏng hơn. Một số hình ảnh tàu đánh cá bằng gỗ 16 Cùng với đó, hạn chế lớn nhất hiện nay trên các tàu của Việt Nam (phần lớn là tàu vỏ gỗ) là thiếu hệ thống bảo quản sản phẩm đạt tiêu chuẩn khiến tổn thất sau khai thác thủy sản ở mức rất cao từ 20% – 30%. Hiện nay, hầu hết tàu cá vẫn bảo quản thủy sản theo cách truyền thống là dùng hầm chứa đá lạnh có nhiệt độ dao động từ 0 - 5 độ C với thời gian bảo quản tốt nhất không quá 10 ngày (như hình 1. Trong khi đó, mỗi chuyến đi biển của các tàu khai thác hải sản xa bờ kéo dài từ 20 - 25 ngày.
Hải sản lưu giữ trên tàu dài ngày sẽ khiến chất lượng bị ảnh hưởng khi cập bến. Bên cạnh đó, đá lạnh thường có cạnh sắc nhọn làm tổn thương da cá sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập làm cho chất lượng bị sụt giảm. Để tiết kiệm chi phí đầu tư đóng tàu, ngư dân thường làm hầm bảo quản thủy sản bằng phương pháp cách nhiệt bằng tấm xốp ép chặt vào vách hầm và vách được đóng chặn bằng gỗ tấm dày từ 1,5cm ÷ 2,0cm; thành vách hầm được sơn hoặc phủ bạt. Trên miệng hầm được đậy bằng miếng cao su dày 5cm để giữ kín.
Với kết cấu như vậy, hầm chỉ giữ được đá từ 10-15 ngày, khi đá tan chảy sẽ làm cho thủy sản bị phân hủy; đồng thời hầm rất dễ bị cáu bẩn, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển nếu không được vệ sinh lau dọn thường xuyên. Điều đó gây hư hỏng lượng thủy sản đáng kể.