Chương 1. Lõm điện áp và các phương pháp giảm lõm tức thời và đó là nguyên nhân dẫn đến sự cố đối với các bộ biến đổi điện tử công suất sử dụng góc pha làm thông tin để phát xung điều khiển. Phân loại lõm điện áp Lõm điện áp thường được gây ra bởi các lỗi ngắn mạch trên lưới điện. Do đó, dựa vào các kiểu lỗi này, người ta thường phân chia lõm thành hai loại như sau: - Lõm điện áp đối xứng: Là lõm có cùng độ lớn điện áp lõm, cùng khoảng thời gian lõm và cùng lệch một góc pha trên cả ba pha.
- Lõm điện áp không đối xứng: Là các lõm điện áp khi xảy ra có độ lớn điện áp lõm, khoảng thời gian lõm và góc nhảy pha khác nhau trên các pha. Khi lõm không đối xứng xảy ra, ngoài thành phần thứ tự thuận còn xuất hiện thành phần thứ tự nghịch và thứ tự không. Lõm điện áp đối xứng và không đối xứng gây ra bởi các lỗi được minh họa như hình 1. a, Li 3 pha b, Li 1 pha c, Li 2 pha d, Li 2 pha ch Hình 1.
Lõm điện áp gây ra bởi các lỗi trên lưới điện. Các thiết bị giảm lõm điện áp Có nhiều giải pháp khác nhau để giảm thiểu ảnh hưởng của lõm điện áp, có thể phân biệt ba giải pháp sau đây. Lõm điện áp và các phương pháp giảm lõm - Cải tạo hệ thống điện: Là giải pháp giảm thiểu thông qua việc can thiệp vào hệ thống điện, xem xét cả những thay đổi trong các thành phần điện của hệ thống và trong cấu trúc của nó [6]. - Tăng khả năng "miễn dịch" của thiết bị: Tăng khả năng chịu đựng của thiết bị điện trước những ảnh hưởng của lõm điện áp các nhiễu loạn điện áp [6].
- Thiết bị giảm thiểu: Lắp đặt thiết bị có khả năng giảm thiểu lõm điện áp vào điểm kết nối của hệ thống điện, trước các phụ tải nhạy cảm để bảo vệ tải [6]. Trong số những giải pháp trên, khách hàng dùng điện chỉ có thể lựa chọn là giải pháp lắp đặt thiết bị giảm thiểu, vì họ có thể chủ động kiểm soát và giảm thiểu được lõm. Trên thị trường, có rất nhiều thiết bị được cung cấp, nhưng phổ biến là ba loại dưới đây [7]: - UPS: Uninterruptible Power Supply. Đây là bộ chuyển đổi tĩnh với hai bộ biến đổi để giảm thiểu hầu hết các vấn đề về chất lượng điện năng.
Cấu trúc của UPS được minh họa trong hình 1. - DVR: Dynamic Voltage Restorer. Đây là một thiết bị kết nối nối tiếp, để phục hồi điện áp tải khi xảy ra lõm điện áp. Cấu trúc của DVR được mô tả trong hình 1.
- SSTS: Solid State Transfer Switch để thay đổi nguồn cung cấp cho tải sang nguồn mạnh ổn định hơn, cấu trúc được mô tả ở hình 1. Supply AC/ DC DC/AC Load Supply DC/AC Load Energy Storage S l Hình 1. UPS với hai BBĐ và nguồn dự trữ [7]. DVR nối tiếp [7].
Lõm điện áp và các phương pháp giảm lõm Supply 1 Solid State Transfer Load Switch Supply 1 (SSTS) Hình 1. SSTS để chuyển đổi giữa hai nguồn cung cấp [7]. Một vài ưu nhược điểm của ba giải pháp trên được trình bày trong bảng 1. Ưu nhược điểm của UPS, DVR và SSTS.
Thiết bị Ưu điểm Nhược điểm UPS - Có thể bù được ngắt. - Giá thành cao với mỗi kW. - Tổn thất lớn. DVR - Tổn thất nhỏ.
- Bảo vệ khó. - Chỉ chèn điện áp vào những - Không thể bù cho sự cố ngắt. - Giá thành hiệu quả. SSTS - Tổn thất ở chế độ chờ thấp.
- Cần một nguồn cung cấp không bị - Giá thành cả hệ thống nhỏ. - Có thể bù cho cả sự cố ngắt và - Khó đảm bảo cho một nguồn không lõm điện áp. bị sự cố. - Tỉ lệ lợi ích/giá thành cao.
So sánh lợi ích kinh tế trong 3 giải pháp trên trong các chỉ tiêu về sự tiết kiệm điện, giá thành trên kVA, chi phí vận hành hàng năm, tổng chi phí hàng năm và tỉ lệ lợi ích/chi phí, SSTS là giải pháp hiệu quả nhất. Tuy nhiên, với những nhược điểm khó được khắc phục như yêu cầu của nguồn cung cấp thứ hai phải đảm bảo không bị sự cố, thời gian đáp ứng chậm, SSTS đang dần bị thay thế bởi DVR [7]. Lõm điện áp và các phương pháp giảm lõm DVR – Dynamic Voltage Restorer là một thiết bị kết nối nối tiếp, có thể điều khiển được điện áp tải bằng điện áp chèn vào. Trong trường hợp có lõm điện áp, DVR sẽ chèn phần điện áp bị mất và tránh cho tải nhạy cảm khỏi bị ảnh hưởng bởi lõm.
Nguyên lý hoạt động của DVR được minh họa trong hình 1. Voltage dip Load voltage Injected voltage Supply Load Energy DVR Supply Hình 1. Nguyên lý hoạt động của DVR. Mặc dù, ngày nay là thiết bị thương mại, nhưng DVR không phải là một công nghệ trưởng thành, một số lĩnh vực liên quan đến việc thiết kế và điều khiển vẫn đang ở mức độ nghiên cứu cơ bản.
Một số nghiên cứu tập chung vào cấu trúc và thiết kế bộ lọc dòng cho DVR, một số nghiên cứu đề cập đến chiến lược kiểm soát nguồn dự trữ cho DVR hay nghiên cứu giải quyết những khó khăn về bảo vệ và tránh nhiễu cho DVR. Trong luận văn này, tác giả sẽ tập chung thiết kế và điều khiển cho một DVR chèn điện áp vào hệ thống lưới điện phân phối để giảm thiểu tác động đến tải nhạy cảm khi có lõm điện áp xảy ra. Cấu trúc của bộ khôi phục điện áp động Chương 2 CẤU TRÚC CỦA BỘ KHÔI PHỤC ĐIỆN ÁP ĐỘNG 2. Cấu trúc chung của DVR Cấu trúc của DVR được cấu thành từ các thành phần chính gồm máy biến áp nối tiếp, bộ lọc đầu ra, bộ biến đổi và nguồn năng lượng như được trình bày ở hình 2.
Mechanically by-pass and disconnection Supply Load Transformer Thyristor by-pass Cf Lf Line-filter Enegy Supply Cdc VSC Hình 2. Sơ đồ cấu trúc một pha của DVR. Máy biến áp nối tiếp: Tạo khả năng cách ly về điện giữa hệ thống DVR và lưới, đồng thời nâng điện áp chèn vào khi cần thiết. Đơn giản hóa cấu trúc liên kết và bảo vệ thiết bị.
Bộ lọc tần số chuyển mạch: Để làm giảm các hài chuyển mạch phát ra bởi PWM của VSC, cải thiện dạng sóng điện áp chèn vào của DVR. Cấu trúc của bộ khôi phục điện áp động Bộ biến đổi: Thông thường nhất là bộ biến đổi nguồn áp ba pha (VSC) xâ y dựng dựa trên các transistor IGBT (cũng có thể sử dụng cả thyristor hoặc GTO), được điều khiển bằng phương pháp điều chế PWM. DC-link và bộ cung cấp năng lượng: Có khả năng cung cấp năng lượng và kết nối với VSC để có thể tạo ra điện áp xoay chiều cần thiết bù cho một lõm điện áp khi nó xảy ra. Thiết bị by-pass: Bảo vệ cho các lỗi quá tải của DVR, hoặc lỗi ngắn mạch phía nguồn.
Thiết bị ngắt kết nối: Để đảm bảo ngắt kết nối DVR ra khỏi hệ thống khi cần thiết hoặc khi có các trường hợp khẩn cấp cần phải ngắt mạch để đảm bảo an toàn cho hệ thống DVR. Vị trí của DVR DVR có thể được đặt ở cấp điện áp trung thế hoặc hạ thế trong lưới điện phân phối. Phần này sẽ tập trung trình bày sự khác nhau giữa hai trường hợp trên. UDVR Zsupply Uconv RDVR XDVR Iload Usupply Zload Uload Hình 2.
Mô hình đơn giản của DVR trong hệ thống điện. Mô hình đơn giản của DVR được mô tả ở hình 2.2 và có thể giúp đánh giá được vị trí tốt nhất cho DVR [8]. DVR có thể được biểu diễn như một nguồn áp lý tưởng (U conv) với một thành phần điện kháng (X DVR), đại diện cho thành phần phản kháng của máy biến áp và bộ lọc, một thành phần điện trở (R DVR), đại diện cho tổn thất bên trong DVR. Giá trị của các trở kháng đưa vào có liên quan chặt chẽ đến giá trị điện áp DVR (U DVR) và công suất của DVR (S DVR) theo các công thức: 12 Chương 2.
Cấu trúc của bộ khôi phục điện áp động (2.4) Trong đó, u DVR,Z phụ thuộc vào loại biến áp được sử dụng, bộ lọc, tổn thất trong VSC v.v… Một DVR với khả năng bơm vào điện áp cao (U DVR cao) và chỉ bảo vệ một tải có công suất nhỏ (S DVR thấp) thường có một trở kháng (Z DVR) tương đương lớn. Một DVR ở mức LV lên một vị trí mức điện áp cao hơn, giá trị điện kháng của DVR (u DVR,X) có xu hướng tăng, và giá trị điện trở (uDV R, R ) có xu hướng giảm. Điện trở DVR cao làm tăng tổn thất năng lượng do bị tiêu tán trên DVR và qua đó làm tăng tổn thất chung. Tổng trở DVR được chèn vào cao làm tăng khả năng biến dạng và dao động của điện áp tải nếu tải là phi tuyến hoặc tải dao động.4kV Load 1 DVR Load 1 50/10kV 50/10kV DVR Load 2 Load 3 Load 2 Hình 2.
DVR đặt ở MV. DVR đặt ở LV. DVR đặt ở MV Hình 2.3 mô tả vị trí của DVR khi được đặt ở đường dây trung thế MV. DVR có thể bảo vệ được một nguồn tiêu thụ lớn hoặc một nhóm các nguồn tiêu thụ.
Việc đặt một DVR lớn ở cấp MV sẽ chỉ làm tăng không đáng kể điện kháng của nguồn cung cấp, giống như một tải LV. Cấu trúc của bộ khôi phục điện áp động Ban đầu, điện kháng của nguồn cung cấp được tính bằng tổng điện kháng của các thành phần trong hệ thống gồm có máy biến áp 50/10kV, đường dây 10kV, máy biến áp 10/0,4kV, đường dây 0,4kV [8]. Điện kháng của tải LV không đáng kể nên có thể bỏ qua.5) Sau khi chèn DVR, điện kháng của nguồn tăng lên một lượng bằng điện kháng của DVR: (2.6) Tỉ lệ % điện kháng tăng lên sẽ bằng: (2.7) Việc kết nối DVR ở MV có thể thấy một số ưu điểm như: - Nếu một DVR lớn đặt ở MV sẽ được xem như một tải LV, do đó trở kháng tăng lên là tương đối nhỏ. - Trong hệ thống phân phối MV ba dây không nối đất, DVR chỉ cần điều khiển chèn vào điện áp thành phần thứ tự thuận và thứ tự ngược là đủ, nên dẫn đến cấu trúc của DVR được đơn giản hơn.
- Chi phí cho mỗi MVA để bảo vệ dự kiến sẽ thấp hơn so với việc sử dụng DVR đặt ở LV và phụ tải không tập trung.