Chương I: Khái quát chung về thi hành các bản án, quyết định về tín dụng, ngân hàng. Chương II: Thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc thi hành các bản án, quyết định về tín dụng ngân hàng và kiến nghị. PHAN NỘI DUNG Chuong I KHÁI QUAT CHUNG VE THI HANH CAC BAN ÁN, QUYET ĐỊNH VE TIN DUNG NGAN HANG 1. Khai niệm thi hành án các bản án, quyết định về tín dung ngân hàng Thi hành án dân sự (viết tắt là THADS) là thi hành phần thuộc về dân sự của các bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan, tổ chức có thâm quyên theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
“Thu tuc là những việc cu thể phải làm theo một trình tự quy định để tiễn hành công việc có tính chát chỉnh thức "2; “trình tự là sự sắp xếp lan lượt, thứ tự trước sau’, như vậy thủ tục là việc thực hiện công việc nhất định theo những quy định cụ thể được sắp xếp theo trình tự nhất định”. Vì thé, thủ tục THADS là trình tự thi hành phần thuộc về dân sự của các bản án, quyết định của Tòa án và quyết định của các cơ quan tô chức khác theo quy định pháp luật. Thi hành các bản án, quyết định về tin dụng ngân hàng là trình tự thi hành phần dân sự trong các bản án, quyết định của Tòa án và quyết định của các cơ quan tổ chức khác theo quy định pháp luật liên quan đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 luât các tổ chức tín dụng năm 2010 ( được sua đối bổ sung năm 2017) thì Ngân hàng là loại hình tô chức tin dụng có thé được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Theo quan niệm cô điền, tin dụng được coi là một quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay với điều kiện có hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định. Hay nói một cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyên sử dụng (chuyển nhượng) một khối lượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với những ràng buộc nhất định về: thời gian hoàn trả (gốc và lãi), lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi. Như vậy hoạt động tín dụng ngân hàng là việc đại diện ngân hàng thỏa thuận với các tô chức, cá nhân sử dụng một khoản tiên hoặc cam kêt cho phép sử dụng một 2 NXB Từ điển Bách khoa (2005), Từ điển tiếng việt, Hà Nội, tr.960 3 Viện ngôn ngữ học ( 1996), Ti điển bách khoa Việt Nam, tập 1, Hà Nội tr.
1037 khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vu cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Đặc điểm chung trong việc thi hành các bản án, quyết định về tin dụng ngân hàng Nhìn chung, việc thi hành các bản án, quyết định về tín dụng ngân hàng cơ bản là giống với việc thi hành các bản án dân sự nói chung, nhưng đối với án tín dụng ngân hàng, do những tranh chấp xuất phát từ hoạt động tín dụng của Ngân hàng nên các bản án, quyết định về tín dụng ngân hàng có những đặc điểm rất chuyên biệt gắn chặt với chủ thé cho vay là Ngân hàng. Cu thé như sau: 1. Về doi tượng thi hành các bản án, quyết định về tin dụng ngân hang Đối với án tín dụng ngân hàng, đối tượng mà các bản án, quyết định hướng tới là các chủ thê tham gia quan hệ tín dụng với Ngân hàng.
Trong đó, đối tượng phổ biến là các chủ thé tham gia vào hoạt động kinh doanh. Xuất phát từ hiện trạng phát triển nhanh nên kinh tế hàng hóa nhiều thành phan theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các chủ thể tham gia vào hội nhập, kinh doanh thương mại quốc tế, thị trường bat động sản (nhất là giai đoạn năm 2008-2013) có nhu cầu vốn cao. Với chế độ ưu đãi vay lớn, nhu cầu vốn cao, các chủ thê kinh doanh đa phần tìm đến các ngân hàng. Do đó, các tranh chấp về tín dụng ngân hàng thường liên quan đến hoạt động kinh doanh.
Thế nên, có thể hiểu tại sao, các đặc điểm thi hành các bản án tín dụng ngân hàng có đầy đủ các đặc điểm của việc thi hành các bản án kinh doanh thương mại đồng thời cũng có thêm những đặc điểm chuyên biệt của người được thi hành án là Ngân hàng. Ngoài đối tượng phải thi hành án trong các bản án, quyết định về tín dụng Ngân hàng là các chủ thể tham gia vào các hoạt động kinh doanh còn nhiều đối tượng khác, nhưng có thể phân chia đơn giản thành 02 nhóm chủ thể sau: Nhóm chủ thé có tư cách pháp nhân: Việc hiểu thé nào là pháp nhân được ghi nhận tại điều 74 BLDS. Theo đó, để được công nhận là pháp nhân phải hội tụ đủ đầy đủ các điều kiện sau: “được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác co liên quan, có cơ cấu tô chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật dân sự 2015, có tài sản độc lập với ca nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhán danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lap”. Cụ thé, đối tượng đó là: Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được thành lập theo luật doanh nghiệp (VD: Công ty TNHH hai thành viên trở lên, Công ty TNHH MTV, Công ty cô phan.), các tổ chức được thành lập và chịu sự điều chỉnh của luật các tô chức tín dụng năm 2010 (VD: Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tin dụng nhân dan.) Nhóm chủ thê không có tư cách pháp nhân: là những đối tượng không có các đặc điểm được ghi nhận tại Điều 74 BLDS.
Cu thé: Hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân được thành lập theo luật doanh nghiệp (VD: Doanh nghiệp tư nhân. Về tâm lý của người phải thi hành các quyết định, bản án về tin dụng ngân hàng Đối với nhóm chủ thé có tư cách pháp nhân: Da phan các doanh nghiệp dé đến giai đoạn thi hành án đều lâm vào tình trạng hoạt động khó khăn, thậm chí nhiều doanh nghiệp không còn hoạt động, bỏ trụ sở, nợ nghĩa vụ thuế. Chính vì vậy, họ không còn khả năng thi hành các bản án, quyết định dẫn đến việc phải xử lý tài sản bảo đảm (nếu có). Đối với nhóm chủ thể không có tư cách pháp nhân: Việc thi hành án đối với nhóm chủ thể này khá khó khăn, người phải thi hành án thường có tâm lý chống đối, không chịu tự nguyện thi hành án.
Việc giải thích đối với nhóm đối tượng này thường không mang lại hiệu quả cao, đa phần phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án. Trong số các loại án được liệt kê vào danh sách các án khó khăn phức tạp trên địa bàn toàn quốc, phần lớn người phải thi hành án nằm trong nhóm chủ thê này. Đối với nhóm chủ thê này, mức độ chống đối của người phải THA còn phụ thuộc vào việc chủ thé tham gia vào án tín dụng ngân hàng với tư cách như thé nào. Có thé, chủ thé là người được hưởng lợi trực tiếp từ hoạt động tín dụng ngân hàng (Chủ thé mang tài sản của cá nhân mình dé cầm có, thé chấp tại Ngân hàng) hoặc chủ thê không được hưởng lợi trực tiếp từ hoạt động tín dụng ngân hàng (Chủ thê mang tài sản của cá nhân mình dé bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên thứ ba đối với Ngân hàng).
Trong trường hợp người phải thi hành án là người được hưởng lợi trực tiếp khi tham gia vào hoạt động tín dụng ngân hàng thì việc thi hành án sẽ có phần thuận lợi hơn do tâm lý chung của những người phải thi hành án: “có vay thi có trả”. Hơn nữa, họ là người trực tiếp đi vay nên được hưởng lợi trực tiếp, do vậy người phải thi hành án sẽ chuẩn bị sẵn tinh thần đối với việc phải thi hành bán án, quyết định của Toà án. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp, chủ thé phải thi hành án không tham gia vào hoạt động tín dụng ngân hang. Ví dụ, bên thứ ba dùng tài sản của mình đê bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ của chủ thê 10 khác.
Đối với trường hợp này, chủ thé khác đa phan sử dụng nguồn vốn dé tham gia vào hoạt động kinh doanh và bên có tài sản bảo đảm ít được hưởng lợi trực tiếp từ VIỆC Vay vốn, hoặc có hưởng cũng là con số rất nhỏ. Do vậy, việc thi hành bản án, quyết định trong trường hợp này khó khăn phức tạp hơn, vì việc thi hành án hướng đến chủ thê đi vay đã khó, nay việc thi hành án liên quan đến tài sản của chủ thể không đi vay, không được nhận trực tiếp vốn vay sẽ khó khăn, phức tạp hơn nhiều, vì điểm tựa để thuyết phục đương sự tự nguyện hành án là không có, tâm lý của bên có tài sản bảo đảm là luôn trông chờ vào bên đi vay sẽ trả được số tiền đã vay. Thế nên, tâm lý của bên có tài sản bảo đảm rất chây ỳ, chống đối việc thi hành án với hy vọng càng kéo dài thời gian thi hành án thì người đi vay càng có khả năng trả nợ. Về tài sản bảo đảm thi hành án trong các ban án, quyết định về tin dung ngân hàng Theo quy định tại điều 317 BLDS có quy định: “Thé chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thé chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo dam thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).” Theo đó nghĩa vụ ở đây có thê là nghĩa vụ của chính người có tài sản bảo đảm hoặc là nghĩa vụ của người không có tài sản bảo đảm (trường hợp nhận tài sản bảo đảm của bên thứ ba).
Đối với người sử dụng tài sản của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của chính mình thì giữa ngân hàng và người đi vay sẽ sử dụng mẫu hợp đồng thế chấp thông thường.