Đặt vấn đề Hợp chất thiên nhiên đóng nhiều vai trò trong việc phát triển các loại thuốc mới. Nó là các sản phẩm hữu cơ được sinh ra từ quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật. Việc ứng dụng các hợp chất thiên nhiên đã có từ xa xưa ví dụ như Ai cập cổ đại đã biết sử dụng vỏ cây liễu để làm thuốc giảm đau (chất salicin trong vỏ cây có cấu trúc tương tự như aspirin); hay ở Trung Quốc, cây Diên hồ sách được dùng làm thuốc giảm đau vì do chứa dehydrocorybulbine,. Việt Nam là một trong 16 quốc gia đa dạng sinh học và có truyền thống phát triển hoa cây cảnh lâu đời bậc nhất thế giới.
Đến nay cả nước có khoảng 35.000 ha tập trung chuyên canh hoa cây cảnh, phân bổ đều ở cả hai miền. Trong vòng 10 năm (2005 - 2015) diện tích hoa đã tăng hơn 2,3 lần, giá trị sản lượng tăng 7,2 lần đạt 6.500 tỷ đồng trong đó xuất khẩu trên 60 triệu USD (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 2021). Cây Trang son (Ixora coccinea Linn.) là một trong những loại cây thường được trồng làm cảnh ở nhiều quốc gia, tuy vậy nó vẫn có một số công dụng được ứng dụng trong cả y học dân gian và y học hiện đại, cũng như công nghiệp. Kháng kháng sinh là mối đe dọa sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới, ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống của người dân và sự phát triển tổng thể, bền vững của cả một quốc gia.
Việt Nam là một trong những các quốc gia, trong những năm gần đây đã phải chứng kiến mối đe dọa ngày càng gia tăng của kháng kháng sinh, do việc sử dụng kháng sinh không hợp lý tại các cấp của hệ thống chăm sóc sức khỏe, trong nuôi trồng thủy sản, trong chăn nuôi và trong cộng đồng (World Health Organization, n. Ngoài ra, hiện nay tình trạng đái tháo đường ngày càng gia tăng, ước tính cho thấy từ năm 2021- 2045 Đông Nam Á sẽ tăng 27% số người mắc đái tháo đường (International Diabetes Federation, 2022). Ở Việt Nam tỷ lệ mắc đái tháo đường ở độ tuổi 20 – 79 là 7% và 93% chưa mắc hoặc chưa được chẩn đoán (Bộ Y Tế, 2022). Từ đây thấy được cần tìm được hoạt chất thiên nhiên có tính kháng khuẩn từ đó giúp giảm các vi sinh vật (VSV) gây hại nhưng không làm vsv kháng kháng sinh cũng như có thể ức chế các enzyme phân cắt tinh bột hay giảm hấp thụ đường trong máu an toàn cho con người, dễ tìm kiếm nguyên liệu là cần thiết.
Mật hoa là hỗn hợp của đường và thường được xem như một phần thưởng nhằm thu hút các loài thụ phấn cho cây, vì thế nên đôi khi các loài thụ phấn có thể được xem là trung gian truyền bệnh (Jacquemyn et al. Các vi sinh vật trong mật hoa sẽ làm giảm khả năng sinh sản và thay đổi tần suất các loài thụ phấn khác ghé thăm (Vannette & Fukami, 2016); tuy nhiên đã có nhiều nghiên cứu cho thấy mật của nhiều loài hoa chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học (ví dụ như mật hoa cây thuốc lá) (Carter & Thornburg, 2007). 1 Luận văn tốt nghiệp đại học Khoá 46 Trường Đại học Cần Thơ Vì vậy, việc khảo sát thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của mật hoa Trang son là cần thiết. Chính vì thế đề tài “Khảo sát thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của mật hoa Trang son (Ixora coccinea L.)” được thực hiện.2 Mục tiêu đề tài Đánh giá được thành phần hoá học và hoạt tính kháng khuẩn, kháng oxy hoá và ức chế enzyme α-amylase của mật hoa Trang son (Ixora coccinea L.3 Nội dung nghiên cứu 1.
Khảo sát hình thái, vị trí tiết mật của hoa và thể tích mật hoa Trang son 2. Khảo sát thành phần của mật hoa Trang son. Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của mật hoa Trang son. Khảo sát hoạt tính kháng oxy hoá của mật hoa Trang son.
Khảo sát khả năng ức chế enzyme 𝛼-amylase của mật hoa Trang son. 2 Luận văn tốt nghiệp đại học Khoá 46 Trường Đại học Cần Thơ CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về cây Trang son Trang son hay còn gọi là Nam mẫu đơn, Long thuyền hoa, Mẫu đơn đỏ,. có tên khoa học là Ixora coccinea thuộc họ Cà phê (Rubiaceae) (Bảng 2. Chúng là những cây gỗ hay cây bụi, cao 1–3 m.
Hoa của loài này thường nhỏ, lưỡng tính, đều, ra hoa quanh năm. Đài ít phát triển, dính với bầu noãn, có 4 - 5 răng. Tràng dính, hợp thành ống hẹp. Số nhị thường sẽ bằng và nằm xen kẽ giữa các cánh hoa, dính với ống tràng hoặc miệng tràng.
Bộ nhuỵ gồm 2 lá noãn dính nhau, bầu dưới, 2 buồng và mỗi buồng từ 1 đến nhiều noãn, 1 vòi nhuỵ nhỏ có 2 nướm. Quả nhân cứng, quả nang, có 2 múi sâu, khi non có màu xanh và chuyển sang đỏ hoặc đen khi chín. Hạt có phôi nhỏ nằm trong nội nhũ. Lá đơn, nguyên, mọc đối, luôn có lá kèm với nhiều hình dạng khác nhau (Hình 2.1: Phân loại khoa học (National Center for Biotechnology Information, n.d) Tên khoa học: Ixora coccinea L.
Giới (kingdom) Plantae Ngành (phylum) Streptophyta Lớp (class) Magnoliopsida Bộ (order) Gentianales Họ (family) Rubiaceae Chi (genus) Ixora Loài (species) Ixora coccinea Hình 2.1: Hoa và quả cây Trang son (Ixora coccinea L.) Ghi chú: 1a và 1b: hoa, 1c: quả (Nguồn: Baliga & Kurian, 2012) 3 Luận văn tốt nghiệp đại học Khoá 46 Trường Đại học Cần Thơ Trang son được tìm thấy ở các vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Phân bố tập trung chủ yếu ở châu Á, tìm thấy nhiều ở khu vực Đông Nam Á. Trang son có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Đông Nam Á, bao gồm miền Nam Ấn Độ và Sri Lanka. Nó được trồng rộng rãi ở Indonesia, Malaysia, Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, cũng như Puerto Rico (Chabert-Llompart, 2017).
Ngoài trồng làm cảnh hoặc lấy hoa để cúng thì Trang son được coi như một cây thuốc được dùng trong y học cổ truyền. Trang son có vị ngọt nhẹ, tính mát. Trong y học chúng có tác dụng hạ huyết áp, hoạt huyết, giảm sưng, giảm đau (Tựng, 2010). Theo Lợi (2004) rễ cây dùng làm thuốc lợi tiểu, cảm sốt, đau nhức, kiết lỵ; hoa thường được dùng làm thuốc chữa lỵ.
Hoa phơi khô đun với dầu dừa đến khi sắc được dùng làm thuốc bôi ngoài da chữa bệnh chàm (Sivaperumal et al. Nước được sắc từ rễ được cho là có thể ngăn buồn nôn, nấc và chán ăn. Rễ được dùng trong chữa các vết loét. Thuốc đắp từ lá và thân có thể trị bong gân, chàm, nhọt và bầm tím (Vadivu et al.
Trang son ngoài được dùng trong y học cổ truyền thì các hợp chất được chiết xuất từ nó cũng được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong y học hiện đại và công nghiệp. Rễ cây được chiết xuất để làm nanocellulose (Unni et al. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các hợp chất chiết xuất từ rễ và lá cây có khả năng chống oxy hoá và kháng khuẩn, chiết xuất enthanolic (rễ) có tác dụng bảo vệ gan, ngừa tiêu chảy; chiết xuất hydromethanolic (70%) từ hoa có khả năng ức chế đáng kể gốc tự do trong điều kiện in vitro, dịch chiết từ hoa có khả năng làm giảm sự phát triển của khối u; một số chất phytochemical từ lá có khả năng ngăn quá trình lipid peroxidation, một số chất khác chiết xuất từ lá có khả năng chống viêm, chống dị ứng và chống oxy hoá mạnh, giảm loát dạ dày, chống tiêu chảy, kháng khuẩn,. (Baliga & Kurian, 2012; Muhammad et al.2 Tổng quan về mật hoa 2.1 Giới thiệu chung Mật hoa là một chất dịch lỏng có vị ngọt, thành phần chủ yếu là đường thường có chức năng làm trung gian cho sự tương tác của thực vật đối với các loài thụ phấn, bảo vệ tế bào sinh sản của hoa khỏi vsv.
Mật hoa thu hút kiến, ký sinh trùng,. đồng thời đóng vai trò bảo vệ chống lại động vật ăn cỏ. Mật có thể tiết trên hầu hết các cơ quan thực vật trừ rễ, vị trí tiết mật thường trùng với chức năng của nó (Heil, 2011). Có 2 loại mật hoa là mật trong hoa và mật ngoài hoa (Bảng 2.
Chúng có thể khác nhau nguồn gốc, thành phần, vị trí tiết, tuy nhiên chức năng của chúng lại giống nhau và lượng mật tiết còn phụ thuộc vào độ ẩm tương đối trong không khí (Pacini & Nicolson, 2007). 4 Luận văn tốt nghiệp đại học Khoá 46 Trường Đại học Cần Thơ Bảng 2.2: Điểm khác biệt của mật trong hoa và mật ngoài hoa (Pacini & Nicolson, 2007) Mật trong hoa Mật ngoài hoa Thường là phần thưởng cho Thường dùng để bảo vệ khỏi Chức năng động vật, côn trùng thụ phấn. động vật ăn cỏ. Ở các bộ phận khác nhau của Thường ở lá (cuống lá, lá kèm, Vị trí tiết hoa (nhị hoa, đài hoa, tràng hoa, phiến lá).
Chủ yếu là kiến. Vài ngày khi còn non, vài tuần Tiết mật trong quá trình nở hoa Thời gian tiết (khi ra quả), vài tháng (mật ở lá). hoặc trước vài ngày. Không đi kèm với việc ra hoa.
Nhỏ hơn 1 µL đến vài mL (tỷ lệ Lượng mật thuận với thể tích nhu mô tuyến Vài µL một ngày. Tính chất hoá, lý, độ nhớt của Tính chất hoá, lý của mật ít thay Sự thay đổi chất mật khác nhau phụ thuộc vào đổi vì sinh vật tiêu thụ chủ yếu là lượng mật sinh vật tiêu thụ. Thành phần hoá học của mật hoa ở mỗi loài là khác nhau nhưng nhìn chung nó thường gồm: - Nước: tùy thuộc vào cấu trúc mật hoa, nước có thể được tạo ra từ cả mạch gỗ và mạch rây hoặc chỉ mạch rây. Hàm lượng nước trong mật hoa ít phụ thuộc vào khí hậu và có thể bị ảnh hưởng lớn bởi sự bốc hơi của những hoa tiếp xúc với môi trường.
Nồng độ mật hoa được xác định là độ nhớt của nó do đó ảnh hưởng đến phản ứng ăn uống của động vật; nước trong mật hoa cũng có thể là phần thưởng quan trọng cho các loài thụ phấn trong điều kiện khô ráo (Pacini & Nicolson, 2007; Nicolson, 2021). - Carbohydrate: thành phần đường ở mật hoa đa số là một loại đường hoặc là sự kết hợp của sucrose, glucose, fructose và một số ít mật hoa có thành phần đường khác ví dụ như mannitol. Đối với những loài hoa có hình ống dài, mật nằm sâu thường đường sucrose sẽ chiếm đa số, trong khi các loại hoa không được bảo vệ thì đường fructose và glucose sẽ chiếm ưu thế. Tổng nồng độ của 3 loại đường chính giao động từ 7-70% w/w và chiếm đến 90% thành phần mật hoa (Pacini & Nicolson, 2007).