ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, kỹ nghệ tổng hợp hóa dược phát triển mạnh mẽ nhưng bên cạnh các tác dụng điều trị các sản phẩm tổng hợp thường có những độc tính và phản ứng phụ kèm theo và các tác dụng phụ này đôi khi rất nghiêm trọng thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Vì thế những năm gần đây phong trào quay trở về với thiên nhiên do nhận thức được sự gần gũi về mặt sinh học giữa dược liệu thiên nhiên và con người, độ an toàn đã được kiểm chứng qua lịch sử sử dụng lâu dài, trong đó cây Rau đắng đất cũng là một trong những dược liệu được sử dụng rất phổ biến. Là một loài cây quen thuộc nên từ lâu trong nhân gian, cây Rau đắng đất đã được sử dụng làm bài thuốc chữa viêm gan, làm mát gan và tiêu độc hiệu quả. Theo y học cổ truyền, toàn cây Rau đắng đất có vị đắng, tính mát, quy vào kinh can thận có tác dụng lợi tiêu hóa, nhuận gan, ích mật, thanh nhiệt, lợi tiểu và giải độc.
Theo y học hiện đại, Rau đắng đất được nghiên cứu với nhiều tác dụng dược lý như giải độc gan [19]; chống oxy hóa [7]; kháng khuẩn [37], [48]; hạ đường huyết [27]; chống ung thư [13]…. Trên thị trường đã có những chế phẩm sản xuất từ dược liệu có thành phần là Rau đắng đất như Boganic của công ty Traphaco, Altamin của công ty Bidiphar, B.R của công ty Pharmedic, Chobil của công ty DHG Pharma… hỗ trợ trong việc điều trị các bệnh về gan như viêm gan,xơ gan, vàng da, nổi mề đay. Tuy nhiên ở Việt Nam, tài liệu về cây Rau đắng đất còn ít, do đó chúng ta chưa khai thác được hết các tác dụng tiềm năng của cây. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu thành phần hóa học cao n-Butanol của cây Rau đắng đất (Glinus oppositifolius (L.
Molluginaceae)” được tiến hành với mục tiêu cụ thể: - Phân lập được các hợp chất có trong cao n-Butanol của cây Rau đắng đất. - Bổ sung phổ của chất phân lập từ cây Rau đắng đất vào nguồn phổ học thực vật. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về thực vật học Họ Molluginaceae Theo hệ thống phân loại của A. Takhtajan (2009), họ Molluginaceae gồm 12 chi [12]: Adenogramma, Coelanthum, Corbichonia, Glinus, Glischrothamnus, Hypertelis, Macarthuria, Mollugo, Pharnaceum, Polpoda, Psammotropha và Suessenguthiell.
Đặc điểm hình thái: Cây thân thảo, phân nhánh kiểu chùm hoặc kiểu xim. Lá mọc đối, mọc so le, hoặc gần như mọc vòng; không có lá kèm hoặc lá kèm sớm rụng. Hoa đều lưỡng tính mọc đơn độc hay thành xim. 4-5 lá đài rời hay liền ở gốc, lợp, tồn tại; cánh hoa nhỏ hay không có.
Bầu thượng hiếm khi bầu trung, vòi nhụy hoặc đầu nhụy dạng rời, hiếm khi dính. Bầu hợp lá noãn, thường nhiều ô, số vòi hay đầu nhụy bằng số ô; noãn cong hay đảo. Quả khô tự mở theo kiểu chẻ ô hoặc đường kẻ nứt ngang, ít khi không mở, thường bao quanh bởi đài tồn tại, hạt thường hình thận, đôi khi có một lớp áo hạt nhỏ; có nội nhũ, phôi cong hoặc bao quanh phía ngoài. Họ này thường mọc ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và nhiều loài ở châu Phi [5],[26]; Chi Glinus Chi Glinus trước đây thuộc họ Aizoaceae (thuộc bộ Caryophyllales), sau đó được tách ra và xếp vào họ mới, Molluginaceae [18] do một vài đặc điểm khác biệt về thành phần hóa học.
Họ Molluginaceae có chứa anthocyanin trong khi họ Aizoaceae chứa nhóm hợp chất betalain. Ngoài ra về hình thái thực vật học Aizoaceae khác với Molluginaceae như là các lá đài dính liền nhau thành ống, chỉ nhị dính với bầu và cây thường có lá mọng nước [10]. Đặc điểm hình thái: Cây thân cỏ, mọc hằng năm hay lâu năm, không có lông hay thường có lông xám. Lá có cuống ngắn, mọc đối hay gần như mọc vòng, hình bầu dục hay hình trái xoan, thường nguyên.
Cụm hoa mọc ở nách lá thành bó, có ít hoa, có cuống. Nhị 3 - 30 rời hoặc hợp thành bó khi có nhiều nhị. Bầu thượng hình trái xoan hay thuôn có 3-5 ô nhiều noãn, đầu nhụy thẳng hay cong. Quả nang mở ô, hạt có mồng kéo dài quấn lấy hạt.
2 Loài Rau đắng đất 1.1 Vị trí phân loại Theo hệ thống phân loại thực vật của A. Takhtajan (2009) [46], Glinus oppositifolius (L. Có vị trí phân loại như sau: Giới thực vật (Platea) Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp Cẩm chướng (Caryophyllidae) Bộ Cẩm chướng (Caryophyllales) Họ Rau đắng đất (Molluginaceae) Chi Glinus Loài Glinus oppositifolius (L.) Rau đắng thuộc chi Glinus tuy nhiên có tác giả xếp loài này vào chi Mollugo, thuộc 2 chi trong 12 chi của họ Molluginaceae bao gồm : [12]. Adenogramma Mollugo coelanthum Pharnaceum corbichonia Polpoda Glinus Psammotropha Glischrothamnus Suesenguthiell Hyperteli Macarthuria 1.2 Tên gọi Tên Việt Nam: Rau đắng đất [6] Tên khoa học: Glinus oppositifolius (L.
Họ Rau đắng đất Molluginaceae [4], [5] Tên gọi khác: Rau đắng lá vòng. Tên nước ngoài: Sarsalida (philippin), Kaeng khom (Lào), Jia fan lu (Trung Quốc), Slender carpet weed (Anh)…[44], [7], [30]. Theo danh mục thực vật (1978) của Vườn Kew (Anh Quốc) do M. Gonçalves biên soạn, loài Glinus oppositifolius L.
Molluginaceae còn có 12 tên đồng danh: Mollugo oppositifolius (L.) Mollugo hirta (Hiern.) Glinus denticulatus (Guill.) Mollugo serrulata (Sond.) Glinus mollugo (Fenzl.) Mollugo denticulata (Guill.) Mollugo parviflora (Ser.3 Đặc điểm thực vật ❖ Mô tả thực vật Thân: có nhiều lông mọc bò lan, tiết diện tròn, thân non màu xanh, thân già cứng, màu nâu đỏ. Lá: mọc vòng 2-5 lá không đều nhau, có khi 6 lá, hình mác hẹp, dài 1 – 2,5 cm, có một gân chính. Lá kèm rất nhỏ, rụng sớm. Cụm hoa: màu lục nhạt, có cuống dài, tụ họp 2 – 5 cái ở nách lá.
Hoa không có cánh hoa. Nhị 5, đều đính xen kẽ lá đài, chỉ nhị dạng sợi, màu trắng, dài 2 mm, nhụy có 3 vòi nhụy. Quả: Quả nang. Hạt nhỏ hình thận [6], [45].
Rau đắng đất ❖ Hoa thức đồ Hình 1. Hoa thức, hoa đồ của cây Rau đắng đất 1.4 Nguồn gốc và phân bố sinh thái Chi Glinus L. gồm một số loài đều là thân cỏ, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Rau đắng đất phân bố ở vùng nhiệt đới Châu Á, từ Ấn Độ đến Malaysia, Campuchia, Việt Nam và đảo Hải Nam Trung Quốc.
Ở Việt Nam, do khả năng thích nghi tốt nên Rau đắng đất thường phân bố trải dài dọc theo các tỉnh ven biển ở nhiều thành phố lớn như Nam Định đến vùng đồng bằng sông Cửu Long, có khi còn xuất hiện cả trên đất cát khô quanh các con sông, mọc thành bụi và bò lan khắp mặt đất [5], [6].5 Bộ phận dùng và chế biến Toàn cây trên mặt đất [6]. Mùa hoa quả: Từ tháng 4-7, có thể thu hái quanh năm, do cây mọc tự nhiên chen chúc cùng rau cỏ khác nên khá an toàn khi sử dụng và dễ dàng sơ chế. Chỉ cần nhổ nguyên chùm gồm cả rễ và thân cây, sau đó đem về rửa sạch hết phần đất, bỏ những lá vàng hư rồi cắt thành những đoạn nhỏ phơi khô là có thể dùng làm thuốc.2 Tổng quan thành phần hóa học Thành phần hóa học trong chi Glinus Chi Glinus có thành phần hóa học chủ yếu là flavonoid, saponin triterpen, các steroid và một số hợp chất khác. ❖ Flavonoid : Các flavonoid trong chi Glinus chủ yếu gồm các flavon, flavanol, flavonol, isoflavon.1 Các flavonoid trong chi Glinus Tên loài Bộ phận Thành phần flavonoid Glinus oppositifolius Toàn cây kaempferol 3-O-galactopyranosid isorhamnetin 3-O-β-D-xylopyranosyl-(1→2)-β-D- galactopyranosid vitexin (apigenin 8-C-β-D-glucopyranosid) vicenin-2 (apigenin 6,8-di-C-β-D-glucopyranosid) 5,7,4’-trihydroxyflavonol 6,8-dimethyl-5,7,4’-trihydroxyflavon 5,7-dihydroxy-6,8-dimethylflavon 5,4’-dihydroxy-7-methoxy-6,8-dimethylflavon 7-hydroxy-5-methoxy-6,8-dimethylflavanon 3-hydroxy-5,7-dimethoxy-6,8-dimethylflavon 7-hydroxy-5-methoxy-6,8-dimethylflavon 7-hydroxy-5-methoxy- 6-methylflavanon 5-hydroxy-8-hydroxymethyl-7-methoxy-6- methylflavon 5,7-dihydroxy-4’-methoxy-6,8-dimethylflavon [21], [32], [40].
Glinus lotoides Hạt Vicenin-2; Vicenin-2’’-O-glucosid; [16] Toàn cây Apigenin-7-O-glucosid; Luteolin-7-O-glucosid; Isovitexin; 5,7,4’-trihydroxy-6,3’-di-(3-3-dimethylallyl) isoflavon; 5,7,2’,4’-tetrahydroxy-6-(3-3-dimethylallyl) isoflavon; 5,7,2’,4’-tetrahydroxy-6,3’-di-(3-3-dimethylallyl) isoflavon; [31] ❖ Saponin triterpenoid: 6 Saponin triterpenoid của chi Glinus được nghiên cứu và tìm thấy trên 2 loài chủ yếu là Glinus oppositifolius (L.) và Glinus lotoides. Các saponin triterpen đa số mang cấu trúc khung hopan 30 carbon, 5 vòng.2 Các saponin triterpen trong chi Glinus Tên loài Bộ phận Thành phần saponin triterpenoid Glinus oppositifolius Toàn cây 3-O-(β-D-xylopyranosyl)-spergulagenin A; Spergulacin Spergulacin A; Spergulagenin A; Spergulagenin B; Spergulagenin C; Spergulagenin D; Glinosid A; Glinosid B; Glinosid C; Spergulin A; Spergulin B; Oppositifolon; Glinusopposid B,U,T,Q,R,S; [27], [32], [38], [41], [47], [48] Glinus lotoides Hạt Glinusid F,G,H,I; Succulentosid B; [16] Toàn cây Lotoidesid A-F; Succulentosid B; [11] Thành phần hóa học của Rau đắng đất chủ yếu là flavonoid và saponin triterpenoid. Ngoài ra trong cây còn có các hợp chất thơm, steroid, dẫn chất acid acylamin, nucleosid và một vài hợp chất khác [14].1 Nhóm saponin triterpenoid Nghiên cứu khác nhau đã phân lập được các saponin triterpen có khung cơ bản chủ yếu là khung hopan. Có thể kể đến những chất sau: • Glinosid A (16-O-(β-arabinopyranosyl)-3-oxo-12,16β,21β,22-tetrahydroxyhopan) (1) • Glinosid B (16-O-(β-arabinopyranosyl)-3-oxo-12, 16β,22-trihydroxyhopan) (2) • Glinosid C (16-O-(D-glucopyranosyl)-3β, 12β, 16β, 21α, 22-pentahydroxyhopan) (3) • Spergulin A (4) • Spergulin B (5) 7 • Spergulagenin A (6) • Oppositifolon (7) • 3β,12β,16β,21β,22-pentahydroxyhopan (8) • Spergulagenin B, spergulagenin C, spergulagenin D • Spergulacin (9) • Spergulacin A (10) • 3-O-(β-D-xylopyranosyl)-spergulagenin A (11) • Glinusopposid A (12) • Glinusopposid B (13) • Glinusopposid C (14) • Glinusopposid D (15) • Glinusopposid N (16) • Glinusopposid O (17) • glinusopposid K (18) • glinusopposid L (19) • glinusopposid Q (20) • glinusopposid T (21) • glinusopposid U (22) • 3-oxo-olean-12-ene-28,30-dioic acid (23) • 3β-hydroxyoleana-11,13(18)-diene-28,30-dioic acid 30-methyl ester (24) [27], [32], [38], [41], [47], [48].
Cấu trúc các saponin trong cây Rau đắng đất 1.2 Nhóm flavonoid 10 Các flavonoid phân lập được từ Glinus oppositifolius chủ yếu thuộc các khung flavon và flavonol như: • Trifolin (kaempferol 3-O-galactopyranosid) (25) • isorhamnetin 3-O-β-D-xylopyranosyl-(1→2)-β-D-galactopyranosid (26) • vitexin (apigenin 8-C-β-D-glucopyranosid) (27) • vicenin-2 (apigenin 6,8-di-C-β-D-glucopyranosid) (28) • 5,7,4’-trihydroxyflavonol (29) • 6,8-dimethyl-5,7,4’-trihydroxyflavon (30) • 5,7-dihydroxy-6,8-dimethylflavon (31) • 5,4’-dihydroxy-7-methoxy-6,8-dimethylflavon (32) • 7-hydroxy-5-methoxy-6,8-dimethylflavanon (33) • 3-hydroxy-5,7-dimethoxy-6,8-dimethylflavon (34) • 7-hydroxy-5-methoxy-6,8-dimethylflavon (35) • 7-hydroxy-5-methoxy- 6-methylflavanon • 5-hydroxy-8-hydroxymethyl-7-methoxy-6-methylflavon • 5,7-dihydroxy-4’-methoxy-6,8-dimethylflavon (36) [21], [32], [40]. Cấu trúc các flavoniod trong câu Rau đắng đất 1.3 Các hợp chất khác Ngoài các hợp chất nói trên, trong cây Rau đắng đất còn có: ❖ Chất thơm: Acid benzoic (37), acid 4-hydroxybenzoic, 4-hydroxy- acetophenon, acid p-anisic (38), methyl 4-hydroxybenzoat, acid cinnamic (39), 4-hydroxy-3- methoxyacetophenon, 4-hydroxybenzaldehyd (40), acetosyringon, 4-hydroxy-3,5- dimethoxy benzaldehyd, vanillin, 2-(4- hydroxyphenyl) ethanol, 3-(4”- hydroxyphenyl)-(E)-propenoic acid methyl ester, (E)-methyl-3-(4-hydroxy-3- methoxy phenyl) acrylat, acid ferulic [44]. Các hợp chất thơm trong cây Rau đắng đất ❖ Phytosterol: Spinasterol (41), β-sitosterol (42), stigmasterol (43) [44]. ❖ Pectin loại polysaccharid GOA1 {arabinose, galactose, arabinogalactan loại I (AG-I) và loại II (AG-II)}; 12 GOA2 (acid galacturonic, rhamnose, arabinose và galactose) [22], [44] ❖ Nucleosid: Adenosin [44]; ❖ Dẫn chất của acylamino acid: L-(-) - (N-trans-cinnamoyl) -arginin (44) [40]; 132(R)-pheophytin a; Năm 2014 các nhà khoa học ở Trung Quốc, Bangladesh, Philippines đã phân lập một số hợp chất khác như: squalen, lutein, trilinolein (45), dotriacotyl docosanoat (46) [14].
Một số hợp chất khác trong cây Rau đắng đất 1.3 Tổng quan về tác dụng dược lý 1.