MỞ ĐẦU Hương nhu tía có tên khoa học là (Ocimum sanctum L.), là một loại dược liệu quen thuộc trong vườn của rất nhiều gia đình từ xưa đến nay và đã được ông cha ta sử dụng trong Y học cổ truyền từ hàng nghìn năm về trước. Dược liệu này đã được sử dụng trong điều trị, phòng chống một số bệnh như: chữa cảm lạnh, đau bụng, đi ngoài, viêm phế quản, ho ở trẻ em, bệnh thận, viêm đường hô hấp, rối loạn kinh nguyệt, làm thuốc hạ sốt, giảm đau[12]. Các nghiên cứu khoa học gần đây cũng đã chỉ ra được một số tác dụng dược lý của Hương nhu tía như: chống ung thư, giảm trầm cảm, cải thiện trí nhớ, kháng khuẩn, điều trị bệnh tiểu đường và có hiệu quả trong việc ức chế sự phát triển của virut gây bệnh HIV[43]. Ngoài việc sử dụng trực tiếp như các bài thuốc cổ truyền, Hương nhu tía còn được sử dụng trong rất nhiều các sản phẩm thuốc từ dược liệu cũng như trong các thực phẩm chức năng.
Các nghiên cứu đã cho thấy trong Hương nhu tía chứa nhiều thành phần hoá học ở các bộ phận khác nhau của cây như: eugenol, cardinene, borneol, cubenol, axit linoleic, flavonoid,. Trong các thành phần hoá học này, flavoniod là một nhóm hợp chất lớn chiếm thành phần chính trong cây, có các đặc tính như chống oxy hoá, chống viêm, chống ung thư và chống lo âu, trầm cảm. Luteolin và Apigenin là các flavonoid có hoạt tính sinh học được chiết xuất từ Hương nhu tía. Một số phương pháp đã được phát triển để xác định Luteolin hoặc Apigenin trong huyết tương động vật hay trong thực phẩm, trong các mẫu sinh học và các loài thực vật khác [26].
Tuy nhiên theo hiểu biết của chúng tôi, chưa có bài báo cáo nào về việc xác định đồng thời Luteolin và Apigenin trong Hương nhu tía. Theo Dược điển Việt Nam V (DĐVN V) xuất bản năm 2017 [4] có chuyên luận về dược liệu Hương nhu tía. Trong chuyên luận có quy định các chỉ tiêu đánh giá về tính đúng và chất lượng của dược liệu bao gồm mô tả, vi phẫu, soi bột, định tính, độ ẩm, tro toàn phần, tro không tan trong axit hidrocloric, tạp chất, định lượng tinh dầu. Tuy nhiên trong DĐVN V chưa có chỉ tiêu về định lượng hàm lượng hoạt chất (bao gồm Apigenin, Luteolin) theo các chất Apigenin và Luteolin.
Dược điển Mỹ (tập 4) xuất bản năm 2015 có chuyên luận về định tính và định lượng tritecpen, axit oleanolic và axit ursolic nhưng chưa có chuyên luận về định lượng Apigenin và Luteolin. Để góp phần nâng cấp tiêu chuẩn chất lượng dược liệu Hương nhu tía, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu định lượng đồng thời Apigenin, Luteolin 1 trong Hương nhu tía (Ocimum sanctum L.) bằng phương pháp HPLC-UV với các mục tiêu sau: - Xây dựng được phương pháp định lượng đồng thời các flavonoid gồm Apigenin, Luteolin trong dược liệu Hương nhu tía (Ocimum sanctum L.) bằng phương pháp HPLC-UV. - Áp dụng phương pháp xây dựng được để định lượng hàm lượng hoạt chất trong các mẫu dược liệu Hương nhu tía thu hái tại Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội – Viện Dược liệu. 2 Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1.Tổng quan về dƣợc liệu Hƣơng nhu tía 1.Vị trí phân loại Hương nhu tía thuộc: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophya) Phân lớp: Bạc hà (Lamidae) Bộ: Bạc hà (Lamidaes) Họ: Bạc hà (Lamiaceae) Chi: Ocimum L.
Tên khoa học : Ocimum sanctum L.) Tên thường gọi: hương nhu tía, é đỏ, é rừng hay é tía ( miền Trung và miền Nam) Tên nước ngoài: Monk’s basil, sacred basil, holy basil, tulsi, rough basil, mosquito plant of South Africa( Anh), basilic saint, basilic scaré ( Pháp) [8]. Đặc điểm thực vật Hương nhu tía là loài cây nhỏ sống hàng năm hoặc lâu năm; có thể cao 1,5-2m. Thân và cành hương nhu tía thường có màu đỏ tía, có lông quặp; lá có cuống dài, thuôn hình mác hay hình trứng, dài 1-5cm, mép khía răng cưa, hai mặt màu tím tía, có lông mềm. Cụm hoa mọc ở đầu cành thành chùm xim phân nhánh, lá bắc nhỏ, hoa màu trắng hay tím tía, xếp thành từng vòng 6-8 hoa trên một cụm hoa, đài hoa dài 3-5 mm, thùy trên hình mắt chim, thùy dưới hình dùi dài hơn, những thùy bên rất ngắn; tràng hoa có cánh hơi lượn sóng ở mép; nhị 4 vượt ngoài tràng.
Quả bế tư gần giống hình cầu, hơi dẹt có màu nâu nhạt hoặc đỏ đốm đen nhỏ nằm trong đài tồn tại. Mùa ra hoa và quả của hương nhu tía là từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm. Phân bố, sinh thái Ocimum L. có 8 loài, ở Việt Nam có 5 loài đều là cây trồng.
Hương nhu tía vốn là cây cổ nhiệt đới Châu Á, được trồng rải rác ở Trung Quốc, Lào, Thái Lan để làm thuốc và làm rau gia vị. Ở Việt Nam Hương nhu tía được trồng trong các vườn gia đình hoặc trong các cơ sở chữa bệnh theo y học cổ truyền. Cây ưa khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm 23-30C; lượng mưa 1800-2600 mm/năm. Ở các vùng núi cao có khí hậu cận nhiệt đới và hơi lạnh, không thấy trồng.
Hương nhu tía mọc từ hạt vào khoảng cuối mùa xuân, sinh trưởng nhanh trong hè, đến cuối mùa thu hay đầu đông thì tàn lụi. Cây ra hoa quả nhiều. Qủa chín tự mở, hạt rơi xuống đất và này mầm sau 5-6 tháng. Cây trồng dễ dàng bằng hạt.1: Cây hương nhu tía Hình 1.2: Quả hương nhu tía Hình 1.3: Lá hương nhu tía Hình 1.4: Hoa hương nhu tía 4 1.
Thành phần hóa học Đã có nhiều các nghiên cứu trước đây về phân lập các hợp chất phenolic, tinh dầu, flavonoid, terpenoid trong Hương nhu tía. Trong số các thành phần hóa học này, flavonoid là thành phần chính có trong thực vật, có tác dụng chống lo âu, trầm cảm. Một số phương pháp đã được phát triển để xác định Luteolin, Apigenin trong thực vật, mẫu sinh học; tuy nhiên chưa có báo cáo về việc xác định đồng thời hai hoạt chất này trong hương nhu tía. Các nghiên cứu trong nước Theo Đỗ Tất Lợi, trong hương nhu tía có chứa tinh dầu và một số chất khác chưa rõ (Hương nhu trắng và hương nhu tía đều chứa tinh dầu nhưng tỷ lệ tinh dầu trong hương nhu trắng thường cao hơn (0,6-0,8 %).
Hương nhu tía được trồng ở Việt Nam chứa α-pinen, sapinen, β-pinen, mycren, 1-8 cineol, linalol, camphor, borneol, lynalyl acetat, terpinen-4-ol, α-terpineol, geraniol, cetral, eugenol, methyl eugenol và β-carophylen, α- humulen, methyl iso eugenol, β- elemen, δ-elemen, sesquiterpen. Các thành phần chính là eugenol (trên 70%), methyl eugenol (trên 12%) và β- carophylen. Các thành phần này giống như thành phần của tinh dầu trong hương nhu tía được trồng ở Ấn Độ [3],[5],[35]. Ngoài tinh dầu, hương nhu tía chứa các triterpenoid như acid oleanolic, acid ursolic,…; các acid hữu cơ như acid caffeic (0,81%), acid rosmarinic,…; các flavonoid như apigenin(0,18%), luteolin (0,16%), cirsilineol, crirsimartin, isothymosin, apigenin; apigenin – 7 – glucoside; luteolin; luteolin – 7 – glucoside; orientin, vicenin …[16], [32], [41], [46].
Người ta đã xác định được 4 hợp chất chính trong lá Hương nhu tía là eugenol (0,175-0,362%), luteolin (0,019-0,046%), axit ursolic (0,252-0,478%) và axit oleanolic (0,174 và 0,218%). Hạt chứa các loại tính dầu: stearic (3,19%), oleic (13,82%), linoleic (52,23%),… Ngoài ra, sự thay đổi trong thành phần hoá học có thể do thổ nhưỡng và điều kiện địa lý khác nhau. Phần trên mặt đất của hương nhu tía có nhiều tinh dầu, theo quy định phải có ít nhất 0,5% [4] ở cây khô và 0,2-0,3% ở cây tươi [6]. Hàm lượng flavonoid toàn phần là 0,02% và hàm lượng phenolic toàn phần là 0,365% [11].
5 Các nghiên cứu nước ngoài Các nghiên cứu đã tìm ra một số hợp chất trong hương nhu tía và được thống kê thành các nhóm chính như sau: CÁC HỢP CHẤT PHENOL Trong thiên nhiên, các hợp chất phenol là: Flavonoid, xanthon, quinon, các phenol đơn vòng, các polyphenol (lignin, tanin,.[1] Flavonoid Flavonoid là những hợp chất có màu phenol thực vật, tạo nên màu cho rất nhiều rau, hoa, quả,…. Phần lớn các Flavonoid có màu vàng. Tuy nhiên, có một số có màu xanh, tím, đỏ, không màu cũng được xếp vào nhóm này vì về mặt hoá học chúng có khung sườn căn bản. Khung sườn cơ bản của Flavonoid Flavonoid mang một hoặc nhiều nhóm -OH ở vị trí 5 và 7 trên nhân A và ở vị trí 3,4,5 trên nhân B.
Một số flavonoid đã được phân lập từ hương nhu tía: [17],[28],[44]. 6 Apigenin Luteolin Cirsimaritin Isothymusin Loại C6C3 (Pheylprpnanoid) Loại này được chia thành nhiều nhóm: nhóm trực tiếp, nhóm được este hóa, nhóm đóng vòng, nhóm các hợp chất lignan. Nhóm trực tiếp: Nhiều hợp chất trong nhóm này là thành phần chủ yếu của các loại tinh dầu như eugenol, anethol,. Nhóm được este hóa: thường thấy trong giới thực vật như axit clorogenic, có tính chất gần giống với tanin.
Nhóm đóng vòng: dẫn xuất o-hydroxycinamat đóng vòng tạo thành coumarin. Các mạch nhánh isopren rất hoạt tính, có thể được hydro hóa, đóng vòng tạo ra các hợp chất khác nhau. Nhóm các hợp chất lignan: được tạo thành khi hai đơn vị phenylpropanoid được nối lại với nhau bằng một nối cacbon-cacbon. 7 Các hợp chất phenol C6C3 đã được cô lập từ hương nhu tía: [28], [41] Carvacrol Eugenol Estragol Axit rosmarinic Methyl eugenol Loại C6C1 và C6C2 Các hợp chất này do sự β-oxi hóa dẫn đến cắt ngắn mạch nhánh của cinamat cũng các dẫn xuất của nó có mang nhóm hydroxy – OH hoặc methoxi -OCH3 Các hợp chất loại C6C1 và C6C2 đã phân lập được: 8 Axit gallic Protocatechuic Axit gallic methyl este Triterpen Triterpen được phân bố rộng rãi trong cả giới động vật và thực vật, tồn tại ở dạng tự do hoặc glycoside.
Các triterpen đã được phân lập: Axit ursolic Axit oleanoic Axit ursolic và axit oleanolic là thành phần chính và quan trọng có hàm lượng cao trong Hương nhu tía thuộc nhóm saponin triterpenoid. Năm 2018, Silva và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu hàm lượng axit ursolic trong lá của 8 loài thuộc 9 chi Ocimum ở phía Bắc Brazil bằng phương pháp HPLC. Nghiên cứu đã chỉ ra hàm lượng axit ursolic trong lá của Ocimum sanctum L. là cao nhất (2,02%) [30].
CÁC STEROL Stigmasterol β - sitosterol 1.Công dụng và tác dụng sinh học của Hương nhu tía Theo Đông y, hương nhu tía có vị cay, hơi ôn, vào hai kinh phế và vị. Có tác dụng làm ra mồ hôi, chữa cảm mạo, giảm sốt, lợi thấp, hành thuỷ, dùng chữa đau đầu, đau bụng, nôn mửa, thuỷ thủng, đi ngoài lỏng, chảy máu cam [8].