MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, Việt Nam đứng trong top đầu các quốc gia có diện tích rừng ngập mặn trên toàn thế giới, với tổng diện tích rừng ngập mặn khoảng 200. Trong đó, Quảng Ninh chiếm khoảng 12% diện tích đó, tập trung chủ yếu ở các địa phương: Móng Cái, Tiên Yên, Quảng Yên, Vân Đồn. Rừng ngập mặn của Quảng Ninh giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cân bằng hệ sinh thái, đồng thời là nơi trú ngụ của nhiều loại động thực vật.
Bờ biển Quảng Ninh dài hơn 250 km với nhiều đoạn chia cắt, xen kẽ với các cửa sông là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các cây ngập mặn nói riêng, thực vật ngập nước nói chung. Rừng ngập mặn Quảng Ninh trải dài từ Bạch Đằng (Quảng Yên) đến Trà Cổ (Móng Cái), với nhiều giống, loài cây ngập nước phong phú như vẹt, dù, mắm, sú, trang…Đây là những loài đặc trưng của vùng rừng ngập mặn. Hiện nay, còn có một số loài cây cỏ và cây bụi có khả năng sống trong môi trường rừng ngập mặn rất nhiều. Đặc biệt, các loài này có tác dụng rất to lớn trong vấn đề bảo vệ môi trường, cũng như khả năng vượt trội trong lĩnh vực y học.
Cây Hibiscus tiliaceus L. (Tra làm chiếu) là một loài thực vật tiêu biểu trong số đó. Cây Hibiscus tiliaceus L. là loài thực vật gia nhập rừng ngập mặn và có thể phát triển mạnh trong môi trường ven biển, ven sông và đầm lầy ngập mặn.
Do đó, đề tài:“Nghiên cứu thành phần hóa học của loài Hibiscus tiliaceus L. (Malvaceae) ở vùng rừng ngập mặn Quảng Ninh- Việt Nam” được thực hiện để từ các đặc tính nổi trội của loài Hibiscus tiliaceus L. nâng cao giá trị sử dụng trong đời sống. Mục tiêu của đề tài Từ các thành phần hóa học, công dụng được tìm thấy trong các bộ phận khác nhau của cây, ứng dụng và phát triển hơn nữa những ưu điểm vượt trội của cây trong cuộc sống.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Thành phần hóa học và ứng dụng cây Tra làm chiếu (Hibiscus tiliaceus L.) ở vùng rừng ngập mặn Quảng Ninh- Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu lý thuyết: Thu thập, tổng hợp các tư liệu trong và ngoài nước về đặc điểm, hình thái thực vật, thành phần hóa học, tác dụng dược lý của cây Tra làm chiếu. Tổng hợp tài liệu về phương pháp nghiên cứu chiết tách và xác định các hợp chất thiên nhiên. - Nghiên cứu thực nghiệm: Phương pháp vật lý + Thu gom và xử lý mẫu Tra làm chiếu + Xác định các chỉ số hóa lý Phương pháp hóa học: Phương pháp chiết bằng các dung môi phù hợp.
Phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất.1 Vị trí phân loại, đặc điểm thực vật, phân bố 1.1 Vị trí phân loại chi Hibiscus Theo “Hệ thống phân loại về ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta)” của tác giả A. Takhtajan, chi Hibiscus có ví trí phân loại như sau [1]: Giới thực vật: Plantae Ngành Ngọc Lan: Magnolipphyta Lớp Ngọc Lan (lớp 2 lá mầm): Magnoliopsida Phân lớp sổ: Dilleniidae Bộ Bông: Malvales Họ Bông: Malvaceae Juss. Chi Dâm bụt: Hibiscus 1. Đặc điểm thực vật của họ Malvaceae Juss [2] Họ Bông phần lớn là cây thân nhỏ hoặc cây bụi.
Vỏ nhiều sợi. Thân nhiều nhựa dính nhớt. Lá đơn mọc cách, mép có răng cưa hoặc xẻ thùy sâu, có 3-5 gân gốc hoặc gân chân vịt. Lá kèm sớm rụng.
Hoa lưỡng tính, ít khi đơn tính; mọc đơn lẻ, đôi khi thành hoa tự xim. Hoa có đài phụ, đài hợp hình ống có 5 thùy, tràng hoa lớn, có màu sắc thường xếp vặn và nhàu nát khi ở trong nụ. Nhị nhiều, chỉ nhị hợp thành ống dài, đầu ống xẻ thành nhiều sợi, đỉnh sợi mang bao phấn 1 ô. Hạt phấn lớn, có lông gai.
Bầu trên đỉnh noãn trung trụ. Quả nang nứt vách. Hạt có lông, lá mầm gấp nếp hoặc cuộn. Đặc điểm các loài thuộc chi Hibiscus - Sơ lược về chi dâm bụt: Chi Dâm bụt, chi Râm bụt hay chi Phù dung ( danh pháp khoa học: Hibiscus) là một chi lớn chứa hơn 200 loài thực vật có hoa trong họ Cẩm quỳ, có nguồn gốc ở khu vực nhiệt đới, cận nhiệt đới trên khắp thế giới [3] Chi này bao gồm các loại cây thân thảo sống một đến nhiều năm giống như các loại cây bụi thân gỗ và cây thân gỗ nhỏ.
Lá mọc so le, loại lá đơn hình trứng hay hình mũi mác, thông thường với mép lá dạng răng cưa hay dạng thùy. Hoa lớn, dễ thấy, hình kèn, với năm cánh hoa, có màu từ trắng tới hồng, đỏ, tía hay 3 vàng và rộng từ 4- 15 cm. Quả là loại quả nang năm thùy khô, chứa vài hạt trong mỗi thùy, được giải phóng khi quả nang tách ra khi chín [4] [5]. Nhiều loài trong chi này được trồng do có hoa sặc sỡ cũng như làm hàng rào trong một số vườn hay công viên.
- Trên thế giới Chi Hibiscus tập trung ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Phân bố rộng rãi ở châu Á, châu Phi, châu Úc và châu Mỹ. Một số đặc tính sinh học của chi Hibiscus [6] STT Loài Hoạt tính sinh học - Hoạt tính chống ung thư 1 H. rosa- sinensis - Chống oxy hóa - Hoạt tính kháng khuẩn - Hoạt tính chống oxy hóa 2 H.
sabdariffa - Kháng khuẩn - Chống nấm - Chống oxy hóa 3 H. platanifolius - Hạ đường huyết 4 H. cannabunus - Hoạt tính chống oxy hóa 5 H. mutabilis - Hoạt tính chống oxy hóa 6 H.
esculentus - Hoạt tính chống oxy hóa - Hoạt tính chống oxy hóa 7 H.tiliaceus - Kháng khuẩn - Ở Việt Nam [7] Chi Hibiscus gồm 5 loại: - Hibiscus sabdariffa L.(Bụp giấm): Cây bụi, cao 1-2 m. Thân màu lục hay đỏ tía, phân cành ở gốc. Cành nhẵn hoặc hơi có lông. Lá mọc so le, lá ở gốc nguyên, lá phía trên chia 3-5 thùy, hình chân vịt, mép có răng cưa.
Hoa to, mọc riêng lẻ ở kẽ lá, màu vàng, ở giữa màu đỏ tím sẫm. Quả nang, hình trứng, hạt nhiều màu đen. Mùa hoa quả vào tháng 7- tháng 10. Phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á và châu Phi.
Cây trồng ở Việt Nam tỏ ra có khả năng thích nghi 4 với nhiều loại đất, kể cả đất đồi vùng trung du, hơi chua (Ba Vì- Hà Nội). Sinh trưởng và phát triển tốt ở vùng có nhiệt độ trung bình khoảng 23-240C. - Hibiscus rosa- sinensis L. (Dâm bụt): Cây nhỏ, cao 1-2m, hoặc cây nhỡ 4- 5 m.
Thân hình trụ, tròn, nhẵn, màu nâu xám. Lá mọc so le, có cuống dài, hình bầu dục, gốc tròn, đầu nhọn, mép có răng to, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt; lá kèm hình chỉ dài và nhọn. Hoa to, mọc đơn độc ở kẽ lá, có cuống dài, màu đỏ. Quả nang tròn, chứa nhiều hạt.
Dâm bụt có nguồn gốc từ Trung Quốc, sau được nhân trồng làm cảnh khắp châu Á. Dâm bụt trồng hiện nay rất phong phú và đa dạng về hình thái, màu sắc. Dâm bụt là cây ưa sáng và ưa ẩm, thường được trồng làm cảnh. Có thể nhân giống bằng cành hoặc gốc ghép.
(Phù dung): Cây nhỏ hay nhỡ, cao vài mét. Thân, cành có lông hình sao, nhiều nhất ở cành non. Lá mọc so le, gốc hình tim, đầu nhọn, mép khía răng không đều, mặt dưới trắng nhạt có nhiều lông tơ. Hoa to đẹp, đơn hoặc kép, mọc ở ngọn thân và đầu cành, buổi sáng màu trắng, chuyển dần thành màu hồng nhạt rồi hồng sẫm vào buổi chiều; cuống hoa có đốt ở quá phần giữa.
Quả hình cầu, có lông màu vàng nhạt, hạt hình trứng, có lông dài. Mùa hoa quả từ tháng 9 đến tháng 11. Phù dung có nguồn gốc ở Trung Quốc và hiện nay được trồng nhiều ở nguyên quán, Nhật Bản và nhiều nước ở châu Á. Cây được trồng ở Việt Nam, chủ yếu ở miền Bắc, từ đồng bằng đến vùng núi cao 1500 m.
Phù dung là cây ưa sáng, ưa ẩm, trồng ở miền núi thường có hiện tượng rụng lá vào mùa đông. Nhiệt độ phù hợp cho cây sinh trưởng và phát triển từ 15- 230C. Hàng năm, người ta thường chặt bỏ bớt cành già nhằm kích thích cho cây ra nhiều chồi và cành mới.(Mướp tây): Cây cao khoảng 2 m. Thân hình trụ, có lông.
Lá mọc so le, hình tim, chia 5 thùy hẹp, hai mặt có lông dài áp sát, mép khía răng to, gân chính nổi rõ ở mặt dưới. Hoa mọc ở kẽ lá, màu vàng, ở giữa có màu đỏ, nhị nhiều dính với nhau thành cột, bầu có lông. Quả hình thoi, dài 10- 20 cm. Mùa hoa quả từ tháng 5 đến tháng 7.
Ngày nay, mướp tây được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới để lấy quả non làm rau ăn. Nơi trồng nhiều nhất là Ấn Độ, Tây Phi, Braxin, Thái Lan, Malaysia…Mướp tây là loại cây ưa sáng, ưa ẩm, Nhiệt độ phù hợp cho sự sinh trường, phát triển tối thiểu là 200C. Ở Việt Nam, cây chủ yếu được trồng ở các tỉnh phía Nam. Thân hình trụ.
Lá mọc so le, có cuống dài, gốc hình tim, đầu nhọn, mép khía răng nhỏ, gân lá hình chân vịt, hai mặt có lông, lá phía dưới chia thùy nông, lá phía trên chia 5 thùy sâu, thùy hình mác. Hoa to, màu vàng, mọc đơn độc, có cuống dài. Quả nang, hình chóp nhọn. Hạt nhỏ và nhiều.
Mùa hoa quả từ tháng 5 tới tháng 9. Phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới Nam Á và Đông Nam Á. Ở Việt Nam cây mọc rải rác ở vùng núi thấp đến trung du, đôi khi thấy cả đồng bằng. Vông vang là loại cây ưa sáng, thường mọc lẫn với các loại cây cỏ thấp ở nương rẫy, bãi hoang, ven đồi hay ven đường đi.
Đặc điểm thực vật của cây Tra làm chiếu 1. Đặc điểm thực vật Tên khoa học: Hibiscus Tiliaceus L. Tên đồng nghĩa: Tra làm chèo Tên khác: Bụp tra, hữu nạp, tra biển Tên nước ngoài: Burao (French) Họ: Bông (Malvaceae Juss.1 Cây Tra làm chiếu 6 Hình 1.2 Hoa của cây Tra làm chiếu có màu vàng vào buổi sáng (bên trái) và màu hồng vào buổi chiều (bên phải) Tra làm chiếu là cây gỗ nhỏ, vỏ nhiều sợi và nhựa dính. Tán rậm, nhiều cành nhánh.
Lá đơn mọc cách, hình gần tròn hoặc trứng tròn, đầu có hai mũi nhọn ngắn, đuôi hình tim, đường kính 6- 15 cm. Mép lá nguyên, mặt trên xanh thẫm, mặt dưới phủ nhiều lông hình sao, trắng, mép lá nguyên hoặc có răng cưa. Gân lá hình chân vịt. Cuống lá dài 2- 8 cm.
Cuống lá ngắn hơn hoặc dài bằng phiến lá. Lá kèm lớn, hình mũi mác, có kích thước thay đổi, có lông và sớm rụng. Hoa lưỡng tính mọc lẻ ở gần đầu cành thành hình chùm 2- 5 hoa; đài phụ 9- 10 răng nhỏ.