ĐẶT VẤN ĐỀ Dịch bệnh COVID-19, xảy ra trên hầu hết các quốc gia trên thế giới với hơn 220 triệu người mắc và hơn 4 triệu ca tử vong (tính đến 8/2021) (1), gây thiệt hại và hậu quả nặng nề cả về mặt con người và nền kinh tế toàn cầu, làm tổn thương nghiêm trọng đến hệ thống y tế toàn cầu từ những quốc gia rất phát triển đến các quốc gia chậm phát triển. Tính đến ngày 31/8/2021, Việt Nam có gần 449,489 ca mắc và 11,064 ca tử vong (2). Trước tình hình dịch diễn biến phức tạp thì kiến thức, thái độ và hành vi của người dân, đặc biệt là những người bệnh đến khám tại bệnh viện, chính là các yếu tố quyết định góp phần kiểm soát và đẩy lùi dịch bệnh. Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện vào năm 2020 với 1999 người tham gia, kết quả cho thấy 92,2% có hiểu biết cao về các biện pháp phòng chống COVID-19, 68,6% có thái độ tích cực đối với các biện pháp phòng chống COVID-19 và 75,8% thực hành tất cả 6 biện pháp ngăn ngừa sự lây lan của vi-rút.
Tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, kiến thức và nỗi sợ hãi có liên quan ý nghĩa đến các hoạt động phòng ngừa COVID-19 (3). Đây là 1 trong những đề tài nghiên cứu về KAP liên quan đến COVID-19 được thực hiện vào thời điểm này, đa số các nghiên cứu chủ yếu liên quan đến khía cạnh chuyên môn điều trị và xét nghiệm. Đặc biệt, các nghiên cứu về KAP tại TP.HCM cũng không nhiều, chủ yếu được thực hiện trên phạm vi toàn quốc hoặc khu vực miền Bắc. Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung nhiều bệnh viện lớn trên cả nước, trong đó Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM là một trong những bệnh viện đa khoa trực thuộc Bộ Y tế với điểm mạnh là chuyên khoa ngoại tiêu hoá.
Mỗi năm, bệnh viện tiếp nhận trung bình hơn 2 triệu lượt khám ngoại trú (khoảng 7000 người khám/ngày), điều trị nội trú 55.000 người, phẫu thuật khoảng 30.000 trường hợp. Bệnh viện có tất cả 3 cơ sở, trong đó cơ sở 2 toạ lạc tại 201 Nguyễn Chí Thanh, Quận 5 với chuyên khoa về Tai Mũi Họng và Sản Phụ Khoa, nơi tiếp nhận số lượng người bệnh đến khám trung bình 3000-4000 lượt mỗi ngày, tuy nhiên, điều kiện cơ sở vật chất tại cơ sở này còn hạn chế và chật hẹp. Chính vì thế, ngay từ thời điểm dịch khởi phát, bệnh viện nói chung và cơ sở 2 nói riêng đã chủ động thực hiện tốt và tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định về sàng lọc, phòng dịch của Bộ Y tế và Sở Y tế TP.HCM, các nội 2 dung truyền thông và hướng dẫn phòng bệnh cho người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện đều tuân theo đúng các quy định và hướng dẫn phòng dịch từ các đơn vị quản lý này. Tuy nhiên, nguy cơ là luôn tiềm tàng nếu người bệnh thiếu kiến thức, hiểu không đúng về công tác phòng ngừa bệnh cho bản thân và cộng đồng và đặc biệt là thiếu sự tuân thủ trong suốt quá trình khám chữa bệnh tại bệnh viện sẽ là nguy cơ rất lớn dẫn đến bùng phát dịch cho bệnh viện và cả cộng đồng.
Từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài “Kiến thức – Thái độ – Hành vi phòng bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19 của người bệnh ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM và một số yếu tố liên quan, năm 2021’’. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Tỷ lệ người bệnh ngoại trú đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM có kiến thức đạt, thái độ tích cực, hành vi đạt liên quan đến phòng ngừa bệnh COVID-19 là bao nhiêu? Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ kiến thức đạt, thái độ tích cực, hành vi đạt này là gì? 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng Kiến thức – Thái độ - Hành vi về phòng ngừa bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19 của người bệnh đến khám và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Phân tích một số yếu tố liên quan đến Kiến thức – Thái độ - Hành vi về phòng ngừa bệnh viêm đường hô hấp cấp Covid-19 của người bệnh đến khám và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về COVID-19 1.1 Khái niệm về COVID-19 Vào tháng 12 năm 2019, một loạt ca viêm phổi không rõ nguyên nhân đã xuất hiện ở Vũ Hán, Hồ Bắc, Trung Quốc, với biểu hiện lâm sàng rất giống với bệnh viêm phổi do vi-rút (4). Ban đầu, bệnh này được gọi là “vi-rút corona mới 2019” (2019 novel coronavirus) hay “nCoV-2019”, là tác nhân gây ra bệnh viêm phổi cấp, khiến hàng nghìn người nhiễm bệnh và làm số ca tử vong không ngừng tăng lên từng ngày (6).
Coronavirus là vi-rút hệ gen ARN dương sợi đơn kèm nucleocapsid đối xứng xoắn ốc. Bộ gen của Coronavirus lớn khoảng từ 26 - 32 kilo base. Hình ảnh dưới kính hiển vi điện tử của chúng có một vành tạo bởi các protein bề mặt giống như vương miện, bởi vậy chúng có tên gọi Coronavirus. Nhóm Coronavirus có thể gây bệnh ở người và nhiều loài động vật.
Khi vi-rút xâm nhập vào cơ thể, nó xâm nhập vào một số tế bào và chiếm lấy bộ máy tế bào (gây tổn thương viêm đặc hiệu ở đường hô hấp), đồng thời vi-rút chuyển hướng bộ máy đó để phục vụ cho nó, tạo ra vi-rút mới và nhiễm tiếp người khác (7). Mặc dù hầu hết các trường hợp nhiễm coronavirus ở người là nhẹ, nhưng hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS-CoV) và coronavirus hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS-CoV) đã gây ra hơn 10.000 trường hợp trong hai thập kỷ qua, với tỷ lệ tử vong là 10% đối với SARS-CoV và 37% đối với MERS-CoV (4, 8, 9).2 Các biến chủng của SARS-CoV-2 Trong suốt 2 năm kể từ khi đại dịch bắt đầu, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận sự biến đổi liên tục của SARS-CoV-2 thông qua đột biến. Một biến thể có một hoặc nhiều đột biến tách biệt với các biến thể khác đang lây truyền.TS Phan Trọng Lân – Viện trưởng Viện Pasteur TP.HCM cho biết: WHO chia các biến thể của SARS-CoV-2 làm 2 nhóm(10): 5 Biến thể đáng quan tâm: khi có thay đổi về kiểu hình và gây lây lan dịch trong cộng đồng hoặc có nhiều ca bệnh xuất hiện cùng lúc hoặc được phát hiện ở nhiều quốc gia. Biến thể đáng quan ngại: là những biến thể được khẳng định có liên quan đến gia tăng đáng kể khả năng lây lan; làm thay đổi đáng kể tình hình dịch tễ Covid-19 một cách tiêu cực; tăng độc lực vi-rút/làm nặng lên biểu hiện lâm sàng; giảm hiệu quả các biện pháp y tế công cộng; hay giảm hiệu quả của các vắc xin.
Hiện có 4 biến thể được xếp vào nhóm đáng quan ngại là Alpha, Beta, Gamma và Delta, trong đó Delta đang là biến thể chủ đạo đang gây bệnh trong đợt bùng phát dịch lần thứ 4 tại Việt Nam. Biến thể Delta (B.2), còn gọi là “đột biến kép” được phát hiện lần đầu tiên tại Ấn Độ vào tháng 12/2020. Với khả năng lây nhiễm nguy hiểm, Delta sớm trở thành chủng vir-rút chính gây dịch bệnh tàn khốc ở cả Ấn Độ, đến Vương quốc Anh, rồi lần lượt đến các nước khác, áp đảo hệ thống y tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Với đặc điểm dễ lây lan, khó truy vết, theo thống kê của WHO, biến thể này đã lây lan ra 124 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Các dữ liệu mới chỉ ra, biến thể Delta có mức độ lây lan cao chủ yếu là vì người nhiễm biến thể này mang tải lượng vi-rút ở khoang mũi lớn gấp 1.000 lần so với người nhiễm các chủng vi-rút SARS-CoV-2 trước đó. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật châu Âu (ECDC) cho biết, Delta có khả năng lây nhiễm nhanh hơn từ 40% đến 60% so với biến thể Alpha được phát hiện lần đầu tại Anh. ECDC dự đoán đến đầu tháng 8, sẽ có tới 70% số ca mắc mới tại EU nhiễm biến thể Delta và con số này sẽ lên tới 90% vào cuối tháng 8/2021. Lý giải tốc độ lây lan nhanh của biến chủng Delta tại Ấn Độ cũng như tại TP.HCM thời gian qua, ông Nguyễn Trí Dũng – Nguyên Giám đốc Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật thành phố cho biết, biến thể này có tỉ trọng nhẹ, do đó thời gian lơ lửng trong không khí lâu hơn so với các biến chủng khác trước khi rơi xuống các bề mặt.
Điều này đặc biệt nguy hiểm với môi trường kín, môi trường sử dụng điều hoà vì nó sẽ giúp phát tán và gia tăng khả năng lây lan của vi-rút (11).3 Thực trạng mắc và tử vong COVID-19 6 Trên thế giới Theo số liệu thống kê của Worldometer tính đến ngày 31/8/2021, thế giới ghi nhận 217,901,675 ca mắc và 4,523,766 ca tử vong. Hiện đã có 220 quốc gia và vùng lãnh thổ ghi nhận các trường hợp mắc COVID- 19, trong đó, khu vực châu Âu và châu Mỹ là 2 khu vực ghi nhận số ca mắc cao nhất thế giới. Mỹ tiếp tục là quốc gia dẫn đầu về số ca mắc với gần 40 triệu trường hợp nhiễm được ghi nhận. Đây cũng là quốc gia ghi nhận số ca tử vong nhiều nhất do COVID-19 lên đến hơn 656 ngàn trường hợp.
Tại khu vực châu Á, vùng Trung Đông và Trung Á là 2 khu vực dẫn đầu về tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong, xếp đầu là Ấn độ (32,27 triệu ca mắc và 4388 ngàn ca tử vong), xếp thứ hai là Iran (hơn 4,9 triệu ca mắc và hơn 107 ngàn ca tử vong), kế đến là Indonesia (4 triệu ca mắc, hơn 133 ngàn ca tử vong). Tại Việt Nam Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế đến 18g30 ngày 30/8/2021, Việt Nam ghi nhận 449,489 ca mắc và 11,064 ca tử vong, số ca đang điều trị là 209,605 trường hợp và số điều trị khỏi là 228,816 ca, đứng thứ 59/222 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong khi đó, với tỷ lệ số ca nhiễm/1 triệu dân, Việt Nam đứng thứ 163/222 quốc gia và vùng lãnh thổ (bình quân cứ 1 triệu người có 4,572 ca nhiễm). Trong đợt dịch thứ 4 (từ ngày 27/4/2021 đến nay), 5 tỉnh, thành phố ghi nhận số ca mắc cao là TP.2 Các kiến thức cơ bản về dịch bệnh 1.1 Đường lây nhiễm và đối tượng lây nhiễm của SARS-CoV-2 Theo WHO (Tổ chức Y tế thế giới), COVID-19 lây nhiễm ở người qua đường tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp (qua các vật dụng hoặc bề mặt bị nhiễm mầm bệnh), hoặc tiếp xúc gần với người nhiễm bệnh qua dịch tiết từ miệng và mũi.