MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài Trong thời gian dài, các nghiên cứu cải thiện di truyền trên đậu nành tập trung vào khả năng kháng sâu bệnh (Somers và cs, 2005; Trần Thị Cúc Hòa, 2010). Vùng rễ của cây họ Đậu nói chung và cây đậu nành nói riêng được đặc biệt quan tâm do khả năng cố định đạm và cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium. Những năm gân đây, chức năng kháng tác nhân gây bệnh trong đất của các gen vùng rễ đậu nành đã được biết đến. Bên cạnh đó khả năng thích nghỉ với điều kiện hạn và đất mặn của cây đậu nành cũng được chú trọng.
Điều đó cho thay vùng rễ có chức năng cực kỳ quan trọng trong sự phát triển và thích ứng với sự biến đổi khí hậu của cây đậu nành. Khai thác khả năng tự vệ và nguồn gen kháng tác nhân gây bệnh của cây trồng là cơ sở để cải thiện giống cây trồng và là hướng đi được các nhóm nghiên cứu về bộ gen chức năng xác định (Md Setamam và cs, 2014). Hiện nay chưa có công bố nao về tạo rễ tóc trên cây đậu nành trong nước, và có ít nghiên cứu về sinh học vùng rễ và tương tác giữa các gen ở rễ và tác nhân gây bệnh vùng rễ. Trên thế giới, số lượng nghiên cứu tạo rễ tóc từ mẫu đậu nành in vitro cũng rat hạn chế.
Do đó, nghiên cứu sẽ giúp thiết lập qui trình tạo rễ tóc trên đối tượng đậu nành in vitro, làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về chức năng của các gen cũng như sinh học vùng rê cây đậu nành. Kết quả nghiên cứu sẽ làm nền tảng cho các nghiên cứu về chức năng bộ gen đậu nành nhằm khai thác một cách hiệu quả nguồn gen hiện có trong nước. Đồng thời kết quả nay cũng hỗ trợ tích cực cho các nghiên cứu về sự tương tác của tác nhân gây bệnh vùng rễ và các gen ở vùng rễ thực vật. Các hướng nghiên cứu này, về lâu dai, sẽ góp phan đáng kế vào sự phát triển bền vững năng suất và chất lượng cây trồng.2 Mục tiêu đề tài 1.1 Mục tiêu tổng quát Tạo được ré tóc cây đậu nành cảm ứng bởi vi khuân Agrobacterium rhizogenes phục vụ cho các nghiên cứu chức nang gen và sinh học vùng rê đậu nành.2 Mục tiêu cụ thể - xác định được loại mâu đậu nành, vi khuan A.
rhizogenes và các điêu kiện thuận lợi lây nhiêm. - Xác định và duy trì các dòng rễ tóc đậu nành chuyền gen.3 Đối tượng nghiên cứu - Giống đậu nanh HLĐN 29 được cung cấp bởi Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam. - Giỗng đậu nành DT84 của Công ty cỗ phan giống cây trồng miền Nam. rhizogenes không mang plasmid tái tổ hợp gồm các chủng ICPB TR7, ATCC 11325, ATCC 15834 1.4 Nội dung nghiên cứu - Xác định một số điều kiện thích hợp (loại mau, chủng vi khuẩn, tuổi mau, cách thức lây nhiễm, mật độ vi khuẩn, thời gian lây nhiễm) cho quá trình lây nhiễm A.
rhizogenes lên mẫu đậu nành in vitro. - Xác định mẫu rễ tóc đậu nành chuyền gen.5 Y nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài giúp tìm hiểu thêm mối tương tác giữa vi khuẩn A. rhizogenes và mô hình thực vật đậu nành, tạo tiền đề xây dựng các nghiên cứu mới liên quan tạo cây đậu nành chuyên gen và góp phan phát triển các nghiên cứu tạo va nhân sinh khôi rê tóc giúp nghiên cứu về gen và chức năng gen vùng rê.2 Y nghĩa thực tiên Đề tài xác định được thông số quan trọng thích hợp và thiết lập quy trình chuyền gen bang vi khuẩn A. rhizogenes tạo rễ tóc ở cây đậu nành.
Quy trình này có thê ứng dụng trong nghiên cứu các van dé liên quan. Chương 2: TONG QUAN 2.1 Cay dau nanh (Glycine max L.) Đậu nành hay đậu tương (Glycine max L.) là một trong những cây trông quan trọng trong số các loại cây họ đậu (Fabaceae). Đậu nành có hàm lượng protein cao do đó được dùng trong chế biến thực phẩm cho người va gia súc. Đậu nành là loại cây trồng thu hạt, gồm các bộ phận chính: rễ, than, cành, lá, hoa, quả và hạt.
Ré đậu nành là loại rễ cọc gồm rễ cái và các rễ bên, trên có nhiều nốt san chứa vi khuẩn Rhizobium japonicum có khả năng cô định đạm của không khí. Thân tròn, mang 8 - 14 đốt, các cành và lá mọc ra từ các đốt trên thân. Đậu nành là cây tự thụ phần, hoa mọc từ nách lá hoặc ngọn có mau trắng hay tím. Thời ky cây ra hoa sớm hay muộn, thời gian dài hay ngắn tuỳ thuộc vào từng giống và thời vụ gieo trồng bởi nó chịu ảnh hưởng phối hợp của ánh sáng và nhiệt độ.
Quả đậu nành là loại quả ráp, ngoài vỏ quả thường có lông bao phủ, màu sắc vỏ quả khi chín có mau vàng hay xám đen. Hạt đậu nành có hình dạng tròn bầu dục, tròn dài, tròn đẹt; vỏ hạt thường nhẫn có màu vàng nhạt, vàng đậm, xanh, nâu, den. Cây đậu nành là cây trồng ngắn ngày, có thé trồng trên nhiều loại đất, nhiều vụ trong năm; có thể xen canh, gối vụ. rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp để khai thác lợi thế của vùng khí hậu nhiệt đới.
Trong suốt thời gian sinh trưởng. nhu cầu nước của cây không đồng đều qua các giai đoạn. Yêu cầu về độ âm đồng ruộng trung bình là 50 - 60%, giai đoạn ra hoa, hình thành quả phải đạt 70 - 80% nên đậu nành được xếp vào nhóm cây trông có nhu cau về nước cao. Đối với ngành trông trọt, đậu nành có khả năng tích luỹ đạm của không khí để tự túc và làm giàu đạm cho đất nhờ vi khuẩn cộng sinh trên nốt san ở bộ rễ va sinh khối thân, cành lá.
Các chất hữu cơ nay góp phan làm thay đổi tính chất lý hoá học và tăng độ phì nhiêu cho đất. Trong hệ thống thâm canh, trồng đậu nành có tác dụng làm cho cây trồng vụ sau phát triển tốt hơn, góp phần phá vỡ chu kỳ sâu bệnh, chong nan ô nhiêm do lạm dụng phân bón hoá học và thuôc trừ sâu. Các sản phẩm thực phẩm từ đậu nành cũng rất đa dạng, có thể dùng trực tiếp ở dạng hạt thô hay qua chế biến. Ngoài ra, trồng cây đậu nành có tác dụng cai tao đất do hoạt động của nhóm vi khuẩn Rhizobium cộng sinh trên rễ cây họ đậu.
Nhiều nghiên cứu về bộ gen cây đậu nành đã được tiến hành vi đây là cây trồng quan trọng về mặt kinh tế trên thế giới (Stacey và cs, 2006). Những hướng nghiên cứu về cây đậu nành chủ yếu nhăm nâng cao chất lượng dinh dưỡng, khả năng kháng côn trùng gây hại và các mục tiêu khác. Một trong những quy trình hiệu quả để đạt các mục tiêu trên là biến đối di truyền cây đậu nành (Arruda và cs, 2013).2 Vi khuẩn Agrobacterium rhizogenes 2.1 Giới thiệu về vi khuẩn A. rhizogenes Agrobacterium rhizogenes (trước day được gọi là Phytomonas rhizogenes) đã được nhận biết từ hon 70 năm trước như là một tác nhân gây bệnh trên tang lông hút của rễ cây song tử diệp (hội chứng rễ tóc — hairy root).
Agrobacterium rhizogenes là vi khuẩn Gram âm sống trong đất, hình que, có tính di động, không sinh bao tử, thuộc chi Agrobacterium. rhizogenes có quan hệ rat gần với Agrobacterium tumefaciens, tắc nhân gây khối u trên cây. Đến nay, những hiểu biết cơ bản về cơ chế phân tử của sự biến nạp gen thực vật bởi những thành viên của chi Agrobacterium đều là dựa trên những nghiên cứu tong quát về A. Toàn bộ quá trình lây nhiễm được xem như là tương tự nhau trong cả 2 loài.
rhizogenes gây nhiễm vào tế bào thực vật ở vị trí vết thương, do A. rhizogenes bị hap dẫn bởi hợp chat phenol được phóng ra từ những tế bào bị ton thương. Ri plasmid của A. rhizogenes sẽ xâm nhập vào tế bào thực vật va một đoạn nhỏ của Ri plasmid là T-DNA sẽ được chuyển và gan vào bộ gen của tế bào thực vật.
Theo cách này T-DNA được duy trì ôn định trong bộ gen mà nó chuyển vào. Từ vùng bị nhiễm sẽ tạo ra những rễ nhánh bất thường gọi là rễ tóc (hairy root). Những rễ này có đặc điểm là phát triển ăn nghiêng, phân nhánh nhiều, tăng trưởng nhanh và đặc biệt là chúng có khả năng phát triển in vitro trong điều kiện không có các yếu tố kích thích tăng trưởng (Rao và Ravishankar, 2002 trích dẫn bởi Taylor, 2007). Những đặc tính này làm cho rễ tóc trở thành một công cụ được sử dụng rộng rãi cho việc sản xuất các hợp chất thứ cấp, khảo sát chức năng gen, và nghiên cứu sinh học của rễ nói chung.
rhizogenes có thé được phan loai vao nhiều nhóm phụ khác nhau dựa trên kiểu opine ma chúng sản xuất ra. rhizogenes phố biến nhất được xác định đến nay gồm dòng sản xuất agropine (đại diện là Ri plasmid pRi A4, pRi 1855, pRi HRI, pRi 15834, và pRi LBA9402), dòng sản xuất mannopine (đại diện là Ri plasmid pRi 8/96), dòng sản xuất cucumopine (dai diện là Ri plasmid pRi 2659) va dòng sản xuất mikimopine (đại diện là Ri plasmid pRi 1724). Mikimopine và cucumopine là những chat đồng phân lập thể, nhưng không có tính tương đồng giữa các gen tong hop opine ở mức độ nucleotide. Trong số các dòng A.
rhizogenes khác nhau được biết, K47, K599 va HRI là các dòng gây độc cao có khả năng lây nhiễm cho nhiều loài thực vật khác nhau (Taylor, 2007).2 Plasmid Ri của A. rhizogenes Ri plasmid cua A. rhizogenes va Ti plasmid cua A. tumefaciens tuong tu nhau về cau trúc.
Những nghiên cứu so sánh trình tự của Ri va Ti plasmid cho thay các cơ câu của sự hoạt hóa và sự vận chuyển T-DNA từ vi khuẩn vào tế bào thực vật được bảo tồn giữa 2 loại plasmid. Trong cả Ri và Ti plasmid, gần vùng biên giới của T-DNA có 1 chuỗi mã có tính chất lặp lại gồm 24 bp, được gọi là trình tự lẻ (border sequences). T-DNA nguyên thủy mang một nhóm gen gây ung thu và di hóa opine, biểu hiện ở những tế bào thực vật chuyển gen là sự phát triển của các mô ung thư và sự sản xuất opine, các dan xuất amino acid hầu như chỉ được vi khuẩn sử dụng như là nguồn carbon va nitrogen. Ca Ri va Ti plasmid đều chứa gen điều khiến quá trình gan va chuyén T-DNA vao té bao thuc vat va cho hién tượng di hóa các opine trong mô thực vật đã chuyền gen.