mở đầu cho hoạt động cố định đạm khí trời để cung cấp cho cây. Đến thời kì cây chuẩn bị ra nụ, ra hoa thì tốc độ sinh trƣởng của cây tăng lên nhanh. Chính lúc này là mấu chốt để tạo ra thân cây to, mập, các đốt ngắn. Giai đoạn này dài hay ngắn cũng tùy thuộc vào giống, thời vụ, điều kiện ngoại cảnh, nhƣng nói chung vào khoảng 20 – 40 ngày.
Khác với một số cây khác là cây đậu tƣơng khi đã ra hoa thì các bộ phận khác nhƣ rễ, thân, lá vẫn tiếp tục sinh trƣởng và phát triển. Giai đoạn này sinh trƣởng dài hay ngắn tùy thuộc vào đặc tính của giống là chín sớm hay muộn. Thời kì này cây đậu tƣơng rất mẫn cảm với điều kiện khí hậu thời tiết bất thuận nhƣ mƣa to, gió lớn, khô, nóng,. lúc đó mặc dù số hoa của mỗi cây có rất nhiều nhƣng kết quả cuối cùng là số hoa đƣợc thụ phấn và kết quả sẽ rất ít, vì thông thƣờng 75% số hoa thƣờng bị thui và rụng Quả đậu tƣơng đầu tiên đƣợc hình thành trong vòng 7–8 ngày kể từ lúc hoa nở.
Trong điều kiện bình thƣờng sau khoảng 3 tuần lễ là quả phát triển đầy đủ. Lúc các chùm quả non đã xuất hiện thì các chất dinh dƣỡng trong lá đƣợc vận chuyển về nuôi hạt làm cho hạt nảy mầm. Vào thời kì này sự sinh trƣởng của cây chậm lại dần. Các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm.
trong giai đoạn này sẽ có tác động rất lớn đến tốc độ phát triển của quả và hạt. Khi hạt đã phát triển đạt đến kích thƣớc tối đa, các khoang hạt đã kín, quả đã đủ mẩy thì cây ngừng sinh trƣởng. Khi các hạt đã rắn dần và đạt đến độ chín sinh lý vỏ hạt có màu sắc đặc trƣng của giống, còn vỏ quả thì chuyển dần sang màu vàng, vàng tro, xám, lá của cây cũng chuyển dần sang úa vàng và rụng dần. Hàm lƣợng dầu trong hạt đƣợc ổn định sớm vào thời kì hạt đang phát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ triển nhƣng hàm lƣợng protêin thì vẫn còn chịu ảnh hƣởng của điều kiện dinh dƣỡng của cây cho đến cuối thời kì của quá trình chín.
Một số sinh thái cũng không nhỏ của cây đậu tƣơng. Đất trồng đậu tƣơng thích hợp nhất là đất thịt nhẹ, tơi xốp, sâu màu, thoáng, thoát nƣớc, pH từ 6,5-7,2. T ừng giai đoạn sinh trƣởng, phát triển cây đậu tƣơng có yêu cầu nhiệt độ khác nhau: Thời kỳ mọc nhiệt độ thích hợp nhất là 18-22oC, phạm vi nhiệt độ tối thiểu và tối đa cho thời kỳ mọc là 10oC và 40oC. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trƣởng cành lá là 20-23oC, thấp nhất là 15oC, cao nhất là 37oC.
Nhiệt độ thấp ảnh hƣởng đến ra hoa kết quả; nhiệt độ dƣới 10oC ngăn cản sự phân hoá hoa, dƣới 18oC đã có khả năng làm cho quả không đậu. Nhiệt độ thích hợp nhất cho thời kỳ ra hoa là 22-25oC. Nhiệt độ thích hợp nhất cho thời kỳ hình thành quả và hạt là 21-23oC, thấp nhất là 15oC cao nhất là 35oC. Thời kỳ chín nhiệt độ thích hợp nhất là 19-20oC.
Nhiệt độ 25-27oC hoạt động của vi khuẩn nốt sần tốt nhất. Hạt nảy mầm đòi hỏi độ ẩm đất 60-65%. Nhu cầu nƣớc của cây đậu tƣơng thay đổi tuỳ theo điều kiện khí hậu, kỹ thuật trồng trọt và thời gian sinh trƣởng. Đậu tƣơng có phản ứng với độ dài ngày, các giống khác nhau phản ứng với độ dài ngày khác nhau [53].
Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới và trong nƣớc Đậu tƣơng là cây trồng lấy hạt, cây có dầu quan trọng bậc nhất trên thế giới, đứng hàng thứ tƣ sau cây lúa mì, lúa nƣớc và ngô. Do khả năng thích ứng rộng nên nó đã đƣợc trồng ở khắp năm châu lục, nhƣng tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ trên 70%, tiếp đến là châu Á. Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới trong những năm gần đây đƣợc thể hiện trong bảng 1. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.
đậu tương trên thế giới từ năm 2008 đến 2012 Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lƣợng (triệu tấn) 2008 96,45 23,98 231,26 2009 99,32 22,49 223,40 2010 102,61 25,85 265,25 2011 103,60 25,32 262,35 2012 105,00 23,03 241,84 *Nguồn: số liệu thống kê của FAOSTAT, 2012, (http://faostat. Hàng năm, trên thế giới trồng khoảng 105 triệu ha với năng suất bình quân khá cao 23-25 tạ/ha đã tạo ra một sản lƣợng đậu tƣơng gấp hơn 2 lần so với 20 năm về trƣớc (năm 1990: sản lƣợng đậu tƣơng là 108,46 triệu tấn). Trong đó các nƣớc trồng đậu tƣơng đứng hàng đầu trên thế giới về diện tích gieo trồng và sản lƣợng là Mỹ, Braxin và Trung Quốc (Bảng 1. ậu tương của số nƣớc đứng đầu thế giới trong 2010, 2011, 2012 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Nƣớc Diện Năng Sản Diện Năng Sản Diện Năng Sản tích suất lượng tích suất lượng tích suất lượng Mỹ 31,00 29,22 90,60 29,86 28,20 84,19 30,80 26,64 82,05 Braxin 23,33 29,47 68,76 23,97 31,12 74,82 24,98 26,37 65,85 Trung 8,52 17,71 15,08 7,89 18,36 14,49 6,75 18,96 12,80 Quốc *Nguồn: số liệu thống kê của FAOSTAT, 2012, (http://faostat.org/) [59] * Đơn vị:Diện tích (triệu/ha), Năng suất (tạ/ha), Sản lượng (triệu tấn) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Ở nƣớc ta, cây đậu tƣơng đã đƣợc trồng rất sớm từ khi còn là một cây hoang dại sau đó đƣợc thuần hoá và đƣa vào trồng nhƣ một cây có giá trị kinh tế cao.
Tuy nhiên, trƣớc cách mạng tháng 8/1945 diện tích trồng đậu tƣơng còn ít đạt 32 ha (1944), năng suất thấp 4,1 tấn/ha. Sau khi đất nƣớc thống nhất diện tích và năng suất đậu tƣơng đã tăng lên đáng kể. Những năm gần đây, diện tích đậu tƣơng đã đƣợc mở rộng [1], [11]. Tuy nhiên, năng suất đem lại chƣa cao và sản lƣợng còn thấp.
Tình hình sản xuất đậu tƣơng của nƣớc ta trong những năm gần đây đƣợc thể hiện qua bảng 1. Sản xuất đậu tƣơng ở Việt Nam từ 2007 – 2013 2007 2008 2009 2010 2011 2012* 2013* Diện tích canh tác (nghìn ha) 190,1 192,1 146,2 197,8 173,6 200 230 (tấn/ha) 1,45 1,39 1,46 0,02 1,46 1,5 1,52 Tổng sản lƣợng (nghìn tấn) 275,5 267,6 213,6 296,9 254,2 300 350 *Nguồn: Tổng cục thống kê * số liệu dự báo. [60] Nhìn chung, quy mô sản xuất đậu tƣơng trong nƣớc còn tƣơng đối nhỏ và không đáp ứng đƣợc nhu cầu tiêu thụ trong nƣớc. Diện tích đất trồng và sản lƣợng biến đổi theo từng năm do điều kiện thời tiết mƣa to kéo dài, diện tích bị thu hẹp.
Sản lƣợng đậu tƣơng nƣớc ta năm 2011 giảm 14% so với năm 2010 xuống còn 254,2 nghìn tấn. Bên cạnh đó, cùng với nhịp độ tăng dân số và việc thay đổi tập quán sử dụng dầu thực vật thay mỡ động vật, thì nhu cầu dầu thực vật đặc biệt là dầu đậu tƣơng sẽ tăng lên, nhƣ vậy việc phát triển sản xuất đậu tƣơng trong nƣớc là rất cần thiết. Theo số liệu thống kê chính thức, đậu tƣơng đang đƣợc trồng tại 25 trong số 63 tỉnh thành cả nƣớc, với khoảng 65% tại các khu vực phía Bắc và 35% tại các khu vực phía Nam. Đầu năm 2012, Thủ tƣớng Chính phủ cũng đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ và tầm nhìn đến năm 2030.
Theo đó, diện tích đất quy hoạch đậu tƣơng khoảng 100 ngàn ha, tận dụng tăng vụ trên đất lúa để năm 2020 diện tích gieo trồng khoảng 350 ngàn ha, sản lƣợng 700 ngàn tấn; vùng sản xuất chính là đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên. B NH KHẢM DO SMV 1. Bệnh khảm trên cây đậu tƣơng Bệnh khảm đƣợc ghi nhận đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu của thập niên 1900, là một trong những bệnh xuất hiện và gây thiệt hại ở nhiều nơi trồng đậu tƣơng trên thế giới. Khi bị nhiễm bệnh năng suất có thể giảm trên 25%.
Mức độ của bệnh tùy thuộc vào giống và khí hậu tuy nhiên ở nhiệt độ cao bệnh không biểu hiện triệu chứng ra ngoài. Bệnh xuất hiện càng sớm sẽ dẫn đến thất thu càng nặng. Khi nhiễm bệnh lá bị mất màu, loang lổ giống nhƣ tấm khảm, lá nhỏ lại, phát triển không đều, bìa lá cong xuống làm lá biến dạng. Phiến lá bị xếp nếp nhăn nhúm, có màu loang lổ xanh nhạt và xanh đậm và thƣờng dày hơn lá bình thƣờng.
Dọc gân lá, mô tế bào nổi rộp lên những mụn màu xanh đậm. Cây lùn do các lóng thân phát triển kém. Trái và hạt phát triển chậm lại, nhất là các trái ở phần trên của cây. Trái chín chậm, hạt nhỏ, vỏ hạt bị đổi thành màu nâu nhạt và đậm không đều từ tễ hạt lan ra.
Triệu chứng bệnh đƣợc biểu hiện rõ ở 18,50C và trên 29,50C triệu chứng bệnh sẽ ở dạng tiềm ẩn [10], [39], [57]. Ở đậu tƣơng, bệnh khảm phát triển mạnh vào vụ đông giai đoạn cây ra hoa, hình thành quả và gây hại nặng trên những ruộng đậu tƣơng chăm sóc kém, bón nhiều đạm hoặc phân không cân đối. Virus gây bệnh khảm do SMV và BYMV là một trong những bệnh virus điển hình nhất ở đậu tƣơng. Chúng có hình sợi mềm, thuộc nhóm Potyvirus.
Virus có thể lan truyền qua 16 loại rệp thuộc họ Aphididae pisum, Aphisfabae, Myrus persicae là những loài rệp truyền bệnh chính. Sự lây lan từ cây bệnh sang cây khỏe do rệp muội ở ngoài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ đồng vẫn là chủ yếu, ngoài ra bệnh còn truyền qua hạt, đôi khi có tới 30% số hạt giống thu từ các cây bị bệnh có chứa virus trong hạt [65]. Virus gây bệnh khảm SMV và BYMV. SMV thuộc chi potyvirus, họ potyviridae, đƣợc phát hiện lần đầu tiên bởi Clinton (1915), Gardener và Kendrick (1921) tại Hoa Kỳ.
Cấu trúc hệ gen của potyvirus [66] Các hộp khác nhau đề cập đến các gen khác nhau (UTR) vùng 5 'và 3': vùng chưa dịch mã; CP: protein vỏ của virus; Nib: RNA polymerase phụ thuộc RNA; P1, P3, Nia: protease; CI: protein hình trụ; VPg: protein liên kết; HC-Pro: thành phần trợ giúp và protease. SMV sinh ra thể vùi trong tế bào cây bệnh. Thể vùi có dạng hình múi khế hay hình chong chóng. Thời gian tồn tại của virus trong cây bệnh là 2-5 ngày, nhiệt độ mất hoạt tính Q10 là 55-700C.
Khi bị chiếu tia cực tím virus bị mất hoạt tính trong hai giờ. Độ pH thích hợp là 6. Nhiệt độ thích hợp để virus nhân lên trong tế bào cây bệnh là 21-260C. Tại Hoa Kỳ, SMV đã đƣợc phân thành chín chủng bằng cách sử dụng các phản ứng di truyền trên tám giống cây Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ trồng đậu tƣơng.