CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU VE TÂM LÝ HỌC MÀU SẮC VA TONG QUAN VE THIẾT KE ÁN PHAM TRUYEN THONG CHUONG 2: AP DUNG TAM Li HOC MAU SAC VA PHUONG PHAP TIEP CAN DE THIET KE BO AN PHAM TRUYEN THONG CHO GRAB FOOD CHUONG 3: THIET KE BO AN PHAM TRUYEN THONG CHO GRAB FOOD CHUONG 1: NGHIEN CUU VE TAM LY HQC MAU SAC VA TONG QUAN VE THIET KE AN PHAM TRUYEN THONG 1.1 Tổng quan về mau sắc 1.1 Định nghĩa màu sắc Mau sắc là một trong những trải nghiệm phổ biến nhất của con người, là đặc trưng thị giác được mô tả thông qua các loại màu với cái tên như: đỏ, vàng, cam, xanh lá cây, xanh dương hoặc tím. Nhận thức về màu sắc này xuất phát từ sự kích thích của các tế bào cảm quang (đặc biệt là tế bào hình nón trong mắt người và mắt động vật có xương sống khác) bằng bức xạ điện từ (trong phô nhìn thấy trong trường hợp của con người). Định nghĩa của màu sắc được CIE - Ủy ban Quốc tế về Chiếu sáng (Một tô chức phi chính phủ phi lợi nhuận quốc tế hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu tạo ra đặc trưng hợp lý cho màu sắc của chiếu sáng phù hợp cho bộ não con người) trình bày như sau: “Màu sắc: Là một thuộc tính của việc nhận thức thị giác mà có thể được miêu tả qua các đặc tính sắc, độ sáng, độ bão hoa” (CIE e-ILV 17-198). Màu sắc xuất hiện ở mọi nơi xung quanh chúng ta như màu của các tắm biển quảng cáo, màu của đồ vật chúng ta sử dụng.
Chúng ta tiếp nhận màu sắc không chỉ đơn thuần tiếp nhận thuộc tính màu của vật chất một cách riêng lẻ mà còn phụ thuộc vào sự phân bồ của chúng trong vùng môi trường xung quanh, các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự tiếp nhận của màu là kích thước, hình dạng, cau trúc của môi trường xung quanh màu sắc dựa vào tầm tiếp nhận của đối tượng quan sát từ đó có hai khái niệm là: - Mau sắc độc lập: là màu được tiếp nhận ở vùng cách biệt khỏi các màu sắc khác. Được thể hiện ở các tính chất: e Mau (hue) e D6 sang (brightness) Dang Anh Quang - B1I9DCPT179 9 Đồ Ấn Tốt Nghiệp Đại Học ® - Độ rực (colorfulness) ® D6 bão hoa (saturation) - Mau sắc liên quan: là màu được tiếp nhận ở vùng có liên quan đến các màu sắc khác. Thé hiện đầy đủ ở sáu tính chat: e Mau (hue). e D6 sang (brightness) ® D6 rực (colorfulness) ® 6 bão hoa (saturation ® D6 chói (lightness) e Sắc độ (chroma) Mau sắc là điều quan trọng trong cuộc sống, nhất với những người thiết kế, mau sắc ảnh hưởng đến sản phẩm đến nhiệt độ, cảm xúc, kích thích mắt và não của người xem.
Mau sắc có thé tạo ra sản phẩm thiết kế tuyệt vời hoặc phá vỡ tác phẩm thiết ké.2 Các thuộc tinh của mau sắc etererce Whe Hinh1. Hình ảnh hoá 6 thuộc tính của màu sắc (Handbook of Color Psychology - Anna Franklin) Dang Anh Quang - B1I9DCPT179 10 Đồ Ấn Tốt Nghiệp Đại Học Sắc (hue): Thuộc tính dựa vào vi tri tương đối của mau so với các mau đỏ, vàng, xanh lá, và xanh dương trong một vòng tròn kín. Hue giúp chúng ta hiểu được câu hỏi “ màu đó là màu gì vậy?”. Độ sáng (brightness): Thuộc tính dựa vào sự toả, phản chiếu nhiều hay ít ánh sáng.
Khi thêm màu trắng thì màu sẽ càng sáng hơn, thêm màu đen thì màu sẽ tối hơn. Chúng ta có thể làm giảm độ đậm của màu bằng cách đặt chúng cạnh màu tối hơn. Độ chói (lightness): Độ sáng của một khu vực khi xác định với một vùng trăng được chiếu sáng tương đương. Nếu như Brightness là độ phản xạ cảm nhận thì Lightness là độ chói của cảm nhận, độ chói này chỉ thoáng qua và không có tính lâu dài như Birghtness.
Độ rực (colorfulness): Thuộc tính dựa vào độ nhiều sắc, trang thái có nhiều mau tại khu vực tiếp nhận. Độ bão hoa (saturation): Độ rực của một khu vực được so sánh theo tỉ lệ với độ sáng. Có thé được gọi là độ tinh khiết của màu sắc. Là đại lượng đặc trưng cho màu sắc tương đối của vật thể so với màu gốc.
Chúng ta có thê hiểu là một màu nhưng với mức dộ đậm nhạt khác nhau, độ bão hòa có giá trị càng thấp, màu hiển thị càng gan với màu trang hơn. Độ bão hòa (Saturation/Chroma) saturated grayed Hình 1. Độ bão hòa Sắc độ (chroma): Độ rực của một khu vực được so sánh theo tỉ lệ với độ sáng và một vùng trắng được chiếu sáng tương đương. Chroma cho chúng ta biết độ tinh khiết của màu, màu có độ tinh khiết cao sẽ không bị pha thêm những màu nào khác nữa.3 Cac loại mô hình màu 1.1 Mô hình màu RGB Đặng Anh Quang - B1I9DCPT179 11 Đồ Ấn Tốt Nghiệp Đại Học Mô hình màu RGB sử dụng mô hình bổ sung trong đó ánh sáng đỏ, xanh lục và xanh lam được tô hợp với nhau theo nhiều phương thức khác nhau dé tạo thành các màu khác.
Từ viết tắt RGB trong tiếng Anh có nghĩa là đỏ (red), xanh lục (green) và xanh lam (blue), là ba màu gốc trong các mô hình ánh sáng bổ sung. Cũng lưu ý rằng mô hình màu RGB tự bản thân nó không định nghĩa thế nào là "đỏ", "xanh lục" và "xanh lam" một cách chính xác, vì thế với cùng các giá trị như nhau của RGB có thé mô tả các màu tương đối khác nhau trên các thiết bị khác nhau có cùng một mô hình màu. Trong khi chúng cùng chia sẻ một mô hình màu chung, không gian màu thực sự của chúng là đao động một cách đáng kẻ. RGB rộng hơn CMYK rất nhiều vì vậy khi chọn lựa RGB sẽ đa dạng trong thiết kế rất nhiều.
RGB phù hợp sử dụng cho các ứng dụng trên màn hình, chăng hạn nhưu thiết kế đồ họa. Mỗi kênh màu được thê hiện từ 0( bão hòa ít nhất) đến 255( bão hòa nhiều nhất). Điều này có nghĩa là 16.216 màu khác nhau có thé được biểu diễn trong không gian màu RGB. Hau hết các ứng dụng điều tương thích với RGB ta có thé kế đến như: Microsoft Office, Adobe Creative Suite.
RGB có sự hạn chế nhất định, không thé chuyên giữa các thiết bị, khó xác định mau sắc.Hé màu RGB - Nguồn wikipedia Phối trộn màu bồ sung: thêm đỏ vào xanh lá cây tạo ra vàng, thêm vàng vào xanh lam tạo ra trắng.2 Mô hình mau CMYK Đặng Anh Quang - B1I9DCPT179 12 Đồ Ấn Tốt Nghiệp Đại Học Từ CMYK (hay đôi khi là YMCK) là từ viết tắt trong tiếng anh dé chỉ mô hình màu loại trừ sử dung trong in ấn màu. Mô hình này dựa trên cơ sở trộn các chất màu của các mầu sau: - C= Cyan trong tiếng Anh có nghĩa là màu xanh lơ hay cánh chả. - M=Magenta trong tiếng anh có nghĩa là cánh sen hay hồng sam.Hé mau CMYK- Nguôn Wikipedia Việc sử dụng công nghệ in ấn bốn màu sinh ra kết quả in ấn cuối cùng rất cao cấp với độ tương phản cao hơn. Tuy nhiên màu của vật thể mà người ta nhìn thấy trên màn hình máy tinh thông thường có sự sai khác chút it với màu của nó khi in ra vì các mô hình màu CMYK và RGB (sử dụng trong màn hình máy tính) có các gam màu khác nhau.
Mô hình màu RGB là mô hình dựa trên cơ sở phát xạ ánh sáng (màu bồ sung) trong khi mô hình CMYK làm việc theo cơ chế hấp thụ ánh sáng (màu loại trừ).2 Tâm lý học mau sắc 1.1 Khái niệm Lý thuyết về màu sắc và tác dụng tâm lý của màu đã xuất hiện từ năm 1810, khi khi Goethe viết cuốn Theory of Colours, Lý thuyết về màu sắc. Trong đó, ông liên kết các loại màu với các phản ứng cảm xúc khác nhau. Goldstein (1942) đã mở rộng giả thiết của Goethe và cho rằng một số màu nhất định tạo ra các phản ứng sinh lý có hệ thống trong việc tạo ra cảm xúc ở con người như cảm xúc tiêu cực, tích cực. Các nghiên cứu xuất phat từ giả thuyết của Goethe sau đó tập trung vào việc giải thích tác động tâm ly của màu sắc qua bước sóng ánh sáng ( Nakashion, 1964; Crowley, 1993).
Một số nghiên cứu khác tập trung vào các mối liên hệ mà con người có với mau sắc và tác động tâm lý Đặng Anh Quang - B1I9DCPT179 13 Đồ Ấn Tốt Nghiệp Đại Học của màu sắc tới nhận thức và hành vi con người (Frank & Cnlovich, 1988; Soldat et al. Hiện nay, việc nghiên cứu về tâm lý học và tâm lý học màu sắc đã trở thành một ngành khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu đời sống con người. Màu sắc trong ảnh đều khác nhau nhưng lại kích thích những cảm xúc khác nhau. Màu hồng được liên kết với sự dịu dàng và tình yêu, màu xanh lá cây được liên kết với sự phát triển và hòa hợp, màu trang được liên kết với sự thuần khiết và ngây thơ, màu vàng được liên kết với hạnh phúc và hy vọng, màu xanh lam được liên kết với sự đáng tin cây.
Các nhà tâm lý học từ lâu đã xem xét ý nghĩa của màu sắc trong tâm lý học về màu sắc, và những phát của họ rat quan trong dé biết vì những lý do khác nhau. sản phẩm nhất định dựa trên màu sắc của nó thoại di động có vỏ màu đỏ Ví dụ: bạn có biết rằng moi người có nhiều khả năng mua một số sản phẩm dựa trên màu sắc của chúng chúng không? Ví dụ, nếu ai đó nhìn thấy hình ảnh một chiếc điện thoại di động màu đỏ và họ mua nó nhiều hơn vì màu đỏ là màu kích thích cảm xúc. Tóm lại tâm lý học về màu sắc là một chủ đề quan trong dé khám pha vi màu sắc có thể ảnh hưởng đến suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của con người. Nhiều nghiên cứu khác nhau đã chỉ ra răng màu sắc đóng một vai trò lớn trong quá trình lựa chọn và đựa ra quyết định của chúng ta.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của màu sắc Các nghiên cứu chỉ ra rằng màu sắc ảnh hưởng đến mọi người khác nhau dựa trên tâm trạng, giới tính và văn hóa của họ.
Điều quan trọng là các nhà thiết kế phải xem xét những yếu tổ này khi chọn bảng màu va sử dụng màu trong thiết kế. Tâm ly học màu sắc nghiên cứu sự ảnh hưởng của môi trường đối với sức khỏe tâm lý của họ.