Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80% dân số toàn cầu dựa vào các hợp chất tự nhiên và y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe ban đầu. Thị trường thảo dược quốc tế đạt quy mô ước tính trên 80 tỷ USD mỗi năm, thúc đẩy các quốc gia tăng cường kiểm kê và bảo tồn nguồn gen thực vật. Tại Việt Nam, hệ thống điều tra dược liệu ghi nhận khoảng 4.000 loài thực vật có công dụng làm thuốc, trong đó trên 90% phân bố hoang dại trong các hệ sinh thái rừng tự nhiên. Tuy nhiên, áp lực khai thác quá mức cùng sự suy giảm diện tích rừng nguyên sinh đang đẩy nhiều loài thảo dược bản địa vào tình trạng nguy cấp.

Xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái sở hữu tổng diện tích tự nhiên 16.912,12 ha (chiếm 14% diện tích toàn huyện), với độ che phủ rừng đạt 64,7% (tương ứng 14.673,1 ha đất lâm nghiệp, trong đó rừng tự nhiên chiếm 9.073,2 ha). Địa phương nằm trên sườn Đông Bắc dãy Hoàng Liên Sơn, sở hữu dãy núi Bánh cao trên 1.200 m, tạo nên tính đa dạng sinh học cao nhưng chưa từng có công trình kiểm kê bài bản về nguồn cây thuốc. Người dân tại 17 thôn bản, đặc biệt là đồng bào dân tộc H'Mông và Dao, vẫn duy trì tập quán thu hái tự nhiên phục vụ sinh hoạt và buôn bán nhỏ lẻ.

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 6/2019 đến tháng 11/2019 nhằm đánh giá toàn diện thành phần loài, dạng sống, sinh cảnh phân bố, bộ phận sử dụng và hiện trạng khai thác cây thuốc tại xã Cát Thịnh. Kết quả nghiên cứu cung cấp bộ cơ sở dữ liệu định lượng gồm 208 loài thực vật làm thuốc, xác lập căn cứ khoa học giúp Hạt Kiểm lâm huyện Văn Chấn và chính quyền địa phương ban hành phương án bảo tồn gắn với phát triển sinh kế bền vững cho 2.355 hộ dân trong vùng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống phân loại học thực vật bậc cao có mạch của Brummit kết hợp hệ thống APG (Angiosperm Phylogeny Group), phân loại các taxon theo trật tự tiến hóa từ ngành Thông đất, Dương xỉ, Thông đến Ngọc lan. Cấu trúc dạng sống của thảm thực vật được chuẩn hóa theo thang phân loại sinh thái Raunkiaer (1934), chia thành 5 nhóm hình thái chính: cây chồi trên (Phanerophytes), cây chồi sát đất (Chamaephytes), cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes), cây chồi ẩn (Cryptophytes) và cây một năm (Therophytes).

Hiện trạng bảo tồn nguồn gen được đối chiếu trực tiếp với Sách Đỏ Việt Nam (2007) theo các bậc đánh giá Nguy cấp (EN), Sẽ nguy cấp (VU), kết hợp Nghị định 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Nhóm IA - nghiêm cấm khai thác thương mại, Nhóm IIA - hạn chế khai thác). Nghiên cứu tích hợp 4 khái niệm học thuật cốt lõi: tài nguyên cây thuốc (nguồn nguyên liệu thực vật chứa hoạt chất sinh học), tính đa dạng taxon thực vật (chỉ số phong phú họ, chi, loài), tri thức sinh thái bản địa (kinh nghiệm nhận biết, thu hái và bào chế của đồng bào thiểu số), và sinh cảnh phân bố đặc trưng (đơn vị cảnh quan môi trường sống tự nhiên).

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 6/2019 đến tháng 11/2019 thông qua phương pháp điều tra thực địa kết hợp điều tra xã hội học lâm nghiệp:

  • Phương pháp tuyến điển hình: Thiết lập 3 tuyến điều tra thực địa có tổng chiều dài 31,1 km đi qua 14 thôn bản đại diện cho các đai cao và sinh cảnh khác nhau. Tuyến 1 dài 10 km (qua 6 thôn: Hùng Thịnh, Ba Khe, Khe Kẹn, Ba Chum, Lâm Sinh, Văn Hoà); Tuyến 2 dài 7,6 km (qua 3 thôn: Làng Ca, Đồng Hẻo, Vực Tuần); Tuyến 3 dài 13,5 km (qua 5 thôn: Khe Đắc, Pín Pé, Đá Gân, Tăng Khờ, Làng Lao). Phạm vi quan sát mở rộng 10 m sang hai bên tuyến, định vị tọa độ bằng thiết bị GPS kết hợp ghi nhận 578 số hiệu mẫu tiêu bản thực vật.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Chọn mẫu phi ngẫu nhiên có chủ đích với cỡ mẫu 50–75 người đại diện cho 5 nhóm đối tượng: người am hiểu cây thuốc (10–20 người), người trực tiếp khai thác rừng (10–20 người), thầy thuốc dân gian và người trồng cây thuốc (10–20 người), tiểu thương buôn bán dược liệu (10 người), cán bộ trạm Kiểm lâm và khuyến nông xã (5 người).
  • Phương pháp giám định hình thái so sánh: Xử lý 578 mẫu tiêu bản chuẩn (kích thước 41x29 cm ngâm cồn 45 độ, sấy khô) và đối chiếu với các công trình chuẩn quốc gia: Từ điển cây thuốc Việt Nam, Thực vật chí Việt Nam (11 tập), Cây cỏ Việt Nam và cơ sở dữ liệu quốc tế The Plant List, IPNI.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng hợp kết quả điều tra và giám định 578 số hiệu mẫu đã xác lập danh lục gồm 208 loài thực vật làm thuốc thuộc 165 chi và 84 họ, phân bổ trong 4 ngành thực vật bậc cao có mạch tại xã Cát Thịnh:

  • Cấu trúc taxon: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 199 loài (tương đương 95,67% tổng số loài), 157 chi (95,15%) và 76 họ (90,48%). Trong đó, lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) có 163 loài (81,91%), vượt trội so với lớp Loa kèn (Liliopsida) với 36 loài (18,09%). Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) ghi nhận 5 loài (2,40%), ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 3 loài (1,44%), và ngành Thông (Pinophyta) có 1 loài duy nhất là Dây gắm núi (0,48%).
  • Họ và chi ưu thế: 4 họ có số lượng loài phong phú nhất gồm họ Đậu (Fabaceae) với 12 chi, 15 loài (7,21%); họ Cúc (Asteraceae) với 10 chi, 11 loài (5,29%); họ Cà phê (Rubiaceae) với 8 chi, 11 loài (5,29%); và họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 8 chi, 10 loài (4,81%). Các chi nhiều loài nhất là Sung (Ficus - 5 loài), Trọng đũa (Ardisia - 4 loài), Rè (Embelia - 4 loài). Đặc biệt, ghi nhận tới 42 họ đơn loài (chiếm 50,0% tổng số họ), biểu thị tính dễ tổn thương rất cao của nguồn gen cấp bậc họ nếu một loài bị xóa sổ.
  • Giá trị bảo tồn nguồn gen: Phát hiện 9 loài cây thuốc quý hiếm thuộc diện đe dọa. Theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP có 6 loài, gồm 1 loài thuộc Nhóm IA (Lan kim tuyến - Anoectochilus setaceus) và 5 loài thuộc Nhóm IIA (Hoàng tinh hoa trắng - Disporopsis longifolia, Lông cu li - Cibotium barometz, Nam hoàng - Fibraurea recisa, Lan cánh thuyền - Liparis bootanensis, Trúc kinh - Tropidia curculigoides). Theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), có 1 loài Nguy cấp (EN - Lan kim tuyến) và 4 loài Sẽ nguy cấp (VU - Hoàng tinh hoa trắng, Thiên lý hương, Rau sắng, Lá khôi).
  • Dạng sống và sinh cảnh: Cây chồi trên chiếm ưu thế với 152 loài (73,08%), tập trung ở nhóm chồi trên lùn (56 loài, 26,92%) và dây leo gỗ (44 loài, 21,15%). Về sinh cảnh, rừng đang phục hồi chứa mật độ đa dạng cao nhất với 190 loài (91,35%), tiếp đến là nương rẫy với 135 loài (64,90%) và rừng già với 132 loài (63,46%), trong khi sinh cảnh ruộng chỉ có 6 loài (2,88%).

Thảo luận kết quả

Thành phần bộ phận thu hái cho thấy lá là bộ phận được khai thác nhiều nhất với 76 loài (36,54%), tiếp theo là rễ và củ với 66 loài (31,73%), thân cây với 45 loài (21,63%), toàn cây với 42 loài (20,19%), vỏ cây với 24 loài (11,54%), và hoa chỉ có 1 loài (0,48%). Tỷ lệ khai thác rễ, củ và toàn cây chiếm tới 51,92% tổng số loài sử dụng, đặt ra nguy cơ hủy diệt quần thể tự nhiên cực kỳ nghiêm trọng, đặc biệt với các loài địa sinh như Hoàng tinh hoa trắng, Bách bộ, Thổ phục linh và Nam hoàng.

So sánh với các nghiên cứu lân cận tại Chiềng Yên (Sơn La - 209 loài cây thuốc) hay Thái Nguyên (745 loài trên địa bàn 7 huyện), hệ thực vật cây thuốc Cát Thịnh có mật độ loài trên diện tích rất đậm đặc, phản ánh tính chuyển tiếp sinh thái độc đáo của dãy Hoàng Liên Sơn. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn phân bố cấu trúc ngành thực vật, biểu đồ cột ghép thể hiện tương quan giữa dạng sống và sinh cảnh cư trú, cùng ma trận nhiệt (heatmap) thể hiện áp lực khai thác theo từng nhóm bộ phận cây. Sự hiện diện của 42 họ đơn loài cảnh báo nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học cấp độ cao nếu không có vùng đệm sinh thái ngăn chặn tình trạng khai thác tự phát.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Thiết lập vùng bảo tồn nguyên vị (In-situ): Khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt 500 ha rừng tự nhiên trên đai cao 1.200 m tại khu vực núi Bánh trong giai đoạn 2020–2023. Chủ thể thực hiện: Hạt Kiểm lâm huyện Văn Chấn chủ trì phối hợp với UBND xã Cát Thịnh, đặt mục tiêu ngăn chặn 100% hoạt động khai thác thương mại đối với Lan kim tuyến và 5 loài thực vật thuộc Danh mục IIA.
  • Xây dựng mô hình nhân giống và bảo tồn chuyển vị (Ex-situ): Triển khai vườn ươm thực nghiệm 2 ha và chuyển giao kỹ thuật trồng thâm canh dưới tán rừng cho 5 loài dược liệu bản địa có giá trị cao (Lá khôi, Hà thủ ô đỏ, Đương quy, Ba kích, Sa nhân tím) trong giai đoạn 2021–2025. Chủ thể thực hiện: Trạm Khuyến nông huyện Văn Chấn liên kết Trường Đại học Lâm nghiệp, hướng tới mục tiêu tạo vùng nguyên liệu 50 ha và nâng thu nhập bình quân nông hộ lên thêm 25–30%.
  • Hoàn thiện quy chế quản lý cộng đồng và bảo hộ tri thức bản địa: Xây dựng hương ước quản lý rừng cấp thôn, tích hợp quy định cấm khai thác tận diệt rễ, củ vào quy ước của 17 thôn bản trong vòng 18 tháng (2020–2021). Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý rừng phòng hộ Văn Chấn kết hợp Hội Đông y địa phương, đảm bảo 100% hộ gia đình đồng bào H'Mông và Dao ký cam kết khai thác bền vững theo mùa vụ.
  • Chuẩn hóa chuỗi giá trị và liên kết tiêu thụ đạt chuẩn GACP-WHO: Thành lập 02 hợp tác xã chuyên ngành thu mua, sơ chế và đóng gói dược liệu theo chuỗi liên kết với các doanh nghiệp dược phẩm trong giai đoạn 2022–2026. Chủ thể thực hiện: Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Văn Chấn cùng Sở Y tế tỉnh Yên Bái, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ sản phẩm qua chế biến sâu đạt 40%, từng bước xóa đói giảm nghèo cho 520 hộ nghèo trên địa bàn xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý lâm nghiệp và chính quyền địa phương: Lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm, Phòng Tài nguyên - Môi trường và UBND cấp huyện, xã có thể sử dụng danh lục 208 loài và bản đồ tuyến phân bố để xây dựng quy hoạch phát triển vùng dược liệu theo Quyết định số 1976/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
  • Doanh nghiệp dược phẩm và hợp tác xã nông nghiệp: Các đơn vị sản xuất thuốc đông dược có thể khai thác số liệu về 15 loài họ Đậu, 11 loài họ Cúc và các loài bản địa có dược tính cao để lập dự án đầu tư vườn trồng đạt tiêu chuẩn Thực hành tốt nuôi trồng và thu hái dược liệu (GACP).
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên lâm sinh: Tài liệu cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về điều tra thực vật học dã ngoại, thống kê sinh thái Raunkiaer và phân tích mẫu tiêu bản thực vật bậc cao có mạch.
  • Tổ chức phi chính phủ và chuyên gia bảo tồn sinh thái: Cung cấp bằng chứng thực địa phục vụ việc thiết kế các dự án tài trợ sinh kế dưới tán rừng và bảo tồn nguồn gen nguy cấp tại vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Tây Bắc.

Câu hỏi thường gặp

  • Nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Cát Thịnh phân bố tập trung ở sinh cảnh nào nhiều nhất? Nghiên cứu chỉ ra rằng cây thuốc tập trung nhiều nhất ở sinh cảnh rừng đang phục hồi với 190 loài (chiếm 91,35%), theo sau là nương rẫy với 135 loài (64,90%) và rừng già với 132 loài (63,46%). Điều này phản ánh tính đa dạng cao của thảm thực vật thứ sinh nhưng cũng chỉ ra áp lực khai thác đang đè nặng lên các diện tích rừng gần khu dân cư.

  • Vì sao tỷ lệ họ đơn loài tại xã Cát Thịnh lại chiếm tới 50% tổng số họ? Khu vực ghi nhận 42 họ đơn loài trên tổng số 84 họ (đạt 50,0%) do đặc thù địa hình chia cắt mạnh và tính phân hóa sinh thái cao của vùng núi Hoàng Liên Sơn. Đặc điểm này mang ý nghĩa bảo tồn sinh học cốt lõi, bởi việc mất đi một loài đại diện đồng nghĩa với việc tiêu biến hoàn toàn một nhánh phân loại cấp họ tại địa phương.

  • Những loài cây thuốc nào tại Cát Thịnh có giá trị bảo tồn cao nhất theo quy định hiện hành? Có 9 loài quý hiếm được ghi nhận, tiêu biểu là Lan kim tuyến (thuộc Nhóm IA Nghị định 06/2019/NĐ-CP và bậc EN Sách Đỏ Việt Nam), cùng 5 loài thuộc Nhóm IIA gồm Hoàng tinh hoa trắng, Lông cu li, Nam hoàng, Lan cánh thuyền, Trúc kinh, và các loài cấp VU như Lá khôi, Rau sắng, Thiên lý hương.

  • Hình thức thu hái dược liệu nào của người dân bản địa đang đe dọa nghiêm trọng nhất đến thảm thực vật? Hoạt động khai thác rễ, củ (66 loài, 31,73%) và nhổ toàn cây (42 loài, 20,19%) gây tác động hủy diệt lớn nhất. Việc đào xới tận diệt cơ quan sinh dưỡng dưới đất làm triệt tiêu hoàn toàn khả năng tái sinh chồi và phát tán hạt tự nhiên của các loài thân thảo và dây leo củ.

  • Huyện Văn Chấn có thể phát triển các loài cây thuốc chủ lực nào theo định hướng của tỉnh Yên Bái? Căn cứ Kế hoạch số 206/KH-UBND của tỉnh Yên Bái và kết quả điều tra, huyện Văn Chấn được định hướng phát triển 9 loài chủ lực: Quế, Thảo quả, Đinh lăng, Sả, Giảo cổ lam, Ý dĩ, Hà thủ ô đỏ, Đương quy, kết hợp mở rộng trồng bảo tồn Lá khôi và Sa nhân tím dưới tán rừng.

Kết luận

  • Luận văn đã kiểm kê và định danh chính xác 208 loài thực vật làm thuốc thuộc 165 chi, 84 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch tại xã Cát Thịnh, trong đó ngành Ngọc lan chiếm ưu thế với 95,67% số loài.
  • Đã xác lập danh mục 9 loài cây thuốc quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen cấp quốc gia theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Nghị định 06/2019/NĐ-CP, bao gồm Lan kim tuyến, Hoàng tinh hoa trắng, Nam hoàng và Lá khôi.
  • Đánh giá định lượng cấu trúc dạng sống với 73,08% loài chồi trên và làm rõ hiện trạng khai thác bộ phận rễ, củ, thân chiếm tỷ lệ cao đe dọa khả năng phục hồi tự nhiên của thảm thực vật.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh và chính sách kinh tế - xã hội đồng bộ nhằm khoanh nuôi bảo vệ 500 ha rừng núi Bánh và xây dựng vùng nguyên liệu 50 ha giai đoạn 2020–2025.
  • Cần khẩn trương ứng dụng cơ sở dữ liệu của luận văn vào quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện và triển khai các dự án liên kết doanh nghiệp chế biến dược liệu sạch để bảo vệ bền vững tài nguyên rừng Tây Bắc.