phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục công trình đã công bố có liên quan đến luận văn và phụ lục. Thành phần của lignoxenlulozơ 1. Xenlulozơ Xenlulozơ là hợp chất cao phân tử có nguồn gốc thiên nhiên, được hình thành từ các mắt xích β – D – glucozơ liên kết với nhau theo dạng mạch thẳng không Luận văn Khoa học Nghiên cứu phân nhánh (hình 1. Cấu trúc xenlulozơ Xenlulozơ có thể được biểu diễn bằng công thức cấu tạo là (C6H10O5)n hoặc [C6H7O2(OH)3]n trong đó giá trị của n nằm trong khoảng 5000 – 14000 tuỳ thuộc vào loại gỗ, tuổi của cây.
Hàm lượng xenlulozơ trong từng loại vật liệu lignoxenlulozơ cũng có sự khác biệt lớn. Xenlulozơ chiếm 41 - 49% thể tích trong gỗ lá kim, 43 - 52% trong gỗ lá rộng [4]. Xenlulozơ ở điều kiện thường là chất rắn màu trắng, không mùi, không vị. Xenlulozơ có tính hút ẩm, xơ xenlulozơ khô tuyệt đối có thể hấp thụ 8 - 14% nước theo khối lượng (ở 20°C, độ ẩm 60%) [9].
Xenlulozơ không bị hòa tan trong nước, khi tương tác với nước, xenlulozơ hấp thụ một phần và bị trương nở. Bó sợi xenlulozơ chủ yếu trương nở theo chiều ngang, ít trương nở theo chiều dọc. Còn đối với bột gỗ hoặc các vật liệu lignoxenlulozơ khác, khả năng trương nở còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như loại vật liệu, thành phần lignin và hemixenlulozơ… Xenlulozơ cũng không hòa tan trong dung dịch axit loãng ở 4 nhiệt độ thấp. Khả năng hòa tan của xenlulozơ liên quan chặt chẽ đến mức độ phân hủy của sinh khối sau quá trình xử lý.
Nếu như cung cấp đủ năng lượng để phá vỡ các liên kết hiđro tham gia vào cấu trúc tinh thể, xenlulozơ dễ bị hòa tan hơn. Xenlulozơ có thể hòa tan trong axit đặc như H2SO4 72%, H3PO4 85%. Tuy nhiên cấu trúc của các bó sợi xenlulozơ bị phá huỷ nghiêm trọng do xảy ra phản ứng thuỷ phân xenlulozơ thành các saccarit mạch ngắn hơn. Dung dịch NaOH 16 – 18% cũng có thể hoà tan được xenlulozơ mạch ngắn tuy nhiên khi có sự có mặt Luận văn Khoa học Nghiên cứu của oxi, xenlulozơ bị oxi hoá đứt mạch.
Dung môi hoà tan xenlulozơ thường dùng là các hệ dung môi phức của đồng hoặc cađimi như hiđroxit (cuen) cuprietylen điamin hoặc cađoxen. Ngoài ra, các dung dịch muối đậm đặc như muối kẽm clorua, có khả năng hòa tan xenlulozơ có phân tử nhỏ. Xenlulozơ không nóng chảy mà bắt đầu bị phân hủy ở nhiệt độ 180oC. Xenlulozơ được cấu tạo từ các mắt xích là glucozơ giống như tinh bột và glicogen nhưng có cấu tạo phức tạp hơn.
Xenlulozơ là saccarit không phân nhánh, trong đó các gốc β – glucozơ kết hợp với nhau qua liên kết β – 1→ 4 – glicozit. Các mạch xenlulozơ được liên kết với nhau nhờ liên kết hiđro và liên kết Van Der Waals, hình thành hai vùng cấu trúc chính là vùng tinh thể và vùng vô định hình (hình 1. Hai vùng cấu trúc chính của xenlulozơ Trong vùng tinh thể, các phân tử xenlulozơ liên kết chặt chẽ với nhau nên vùng này khó bị hoà tan và khó xảy ra phản ứng. Ngược lại, trong vùng vô định hình, 5 xenlulozơ liên kết không chặt với nhau nên dễ bị hoà tan và dễ bị các tác nhân tấn công và xảy ra phản ứng hơn.
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường là một vấn đề nóng của toàn thế giới, là thách thức của nhiều quốc gia. Ngoài ra, các nguồn nguyên, nhiên liệu hoá thạch dần cạn kiệt cùng với những tác hại to lớn của rác thải nhựa đặt ra yêu cầu về một loại vật liệu mới khắc phục được nhược điểm của các loại vật liệu truyền thống Luận văn Khoa học Nghiên cứu mà lại không gây ô nhiễm môi trường, có thể phân huỷ sinh học và giá thành sản xuất hợp lý. Nhiều loại vật liệu có nguồn gốc thiên nhiên thoả mãn được yêu cầu trên trong đó có xenlulozơ. Xenlulozơ là polime thiên nhiên đã được sử dụng từ cách đây rất lâu trong việc sản xuất giấy.
Các sản phẩm sản xuất từ xenlulozơ như xenlulozơ nitrat, xenlulozơ axetat… đều được sửa dụng rất rộng rãi. Hiện nay có khá nhiều nghiên cứu về ứng dụng của xenlulozơ như làm vật liệu cốt trong vật liệu compozit, giấy…, nhưng ứng dụng của xenlulozơ tách chiết từ vật liệu sinh khối, đặc biệt là rơm rạ chưa được công bố nhiều. Có thể khẳng định xenlulozơ từ rác thải sinh khối như rơm rạ là nguồn nguyên liệu quý cùng với gỗ đóng góp một phần không nhỏ trong vấn đề giải quyết ô nhiễm môi trường, giảm cạn kiệt tài nguyên.2 Hemixenlulozơ Hemixenlulozơ là một loại hợp chất cao phân tử thiên nhiên. Khác với xenlulozơ, hemixenlulozơ có cấu tạo mạch phân nhánh, số mắt xích saccarit liên kết từ 70 đến 200.
Hemixenlulozơ có thành phần saccarit đa đạng như đường hexozơ gồm glucozơ, mannozơ, galactozơ và đường pentozơ gồm xylozơ, arabinozơ. Cấu trúc của hemixenlulozơ đa dạng và phức tạp tùy vào vật liệu lignoxenlulozơ, tuy nhiên chúng có một vài điểm chung gồm [3] Mạch chính của hemixenlulozơ được cấu tạo từ các mắt xích β – D – xylopyranozơ liên kết với nhau bằng liên kết β - (1,4). Nhóm thế phổ biến nhất của hemixenlulozơ là nhóm axetyl ở vị trí cacbon số 2 hoặc 3. 6 Mạch nhánh cấu tạo từ các nhóm đisaccarit hoặc trisaccarit.
Các nhóm này có vai trò liên kết hemixenlulozơ với xenlulozơ, lignin và các cấu tử khác. Mặt khác, các mạch nhánh đều rất ngắn so với mạch chính nên hemixenlulozơ tồn tại ở dạng chất rắn vô định hình và cũng dễ bị thuỷ phân hơn xenlulozơ ở dạng tinh thể. Gỗ cứng, gỗ mềm và nguyên liệu phi gỗ có các đặc điểm hemixenlulozơ khác Luận văn Khoa học Nghiên cứu nhau. Gỗ cứng chủ yếu có hai loại hemixenlulozơ - Axetyl – 4 – O – metylglucuronoxylan (hình 1.3), là một loại polime có mạch chính gồm β – D – xylopyranozơ liên kết với nhau bằng liên kết β – D (1,4) trong đó 70% các nhóm OH ở vị trí C2 và C3 bị axetyl hóa, 10% các nhóm ở vị trí C2 liên kết với axit 4 – O – metyl – D – glucuronic.
Gỗ cứng còn chứa glucomannan (hình 1.4), polime này chứa một tỉ lệ bằng nhau β – D – glucopyranozơ và β – D – mannopyranozơ.3: Axetyl – 4 – O – metylglucuronoxylan Hình 1.4: Glucomannan Loại thứ hai có mạch chính là β – D – galactopyranozơ, phân nhánh. Loại hemixenlulozơ này tạo liên kết glicozit tại nhóm OH ở vị trí C6 với α – L – arabinozơ, β – D – galactozơ hoặc axit β – D – glucoronic. 7 Gỗ mềm cũng bao gồm hai loại hemixenlulozơ chính Galactoglucomannan (hình 1.5) là loại quan trọng nhất, đây là polime cấu thành từ các phân tử D – mannopiranozơ liên kết với D – glucopiranozơ bằng liên kết β - (l,4) với tỉ lệ hai monome tương ứng là 3:1 tuy nhiên tỉ lệ này thay đổi tùy theo loại vật liệu. Luận văn Khoa học Nghiên cứu Hình 1.5: Galactoglucomannan Arabino – 4 – O – metylglucuronoxylan, cấu tạo từ các D – xylopyranozơ, các monome này bị thế ở vị trí 2 bằng axit 4 – O - metyl-glucuronic, ở vị trí 3 bằng (α – L – arabinofuranozơ.
Đối với cỏ, 20 - 40% hemixenlulozơ là arabinoxylan. Polisaccarit này cấu tạo từ các D-xylopyranozơ, OH ở C2 bị thế bởi axit 4 – O – metylglucuronic. OH ở vị trí C3 sẽ tạo mạch nhánh với α-L-arabinofuranozơ.6: Arabinoglucuronoxylan Cấu tạo phức tạp của hemixenlulozơ tạo nên nhiều tính chất hóa sinh và lý sinh cho cây. Lignin Luận văn Khoa học Nghiên cứu Hình 1.7: Cấu trúc của lignin Lignin (hình 1.7) là hợp chất cao phân tử dạng vô định hình được hình thành chủ yếu từ các dẫn xuất phenylpropanoit có nguồn gốc thiên nhiên [10].
Lignin là nguồn nguyên liệu hiđrocacbon thơm tiềm năng trong tương lai khi các nguồn nguyên liệu hoá thạch trong tương lai đang dần cạn kiệt. Lignin là một polyphenol có cấu trúc mở nhưng cấu trúc lignin hoàn toàn không đồng nhất trong các loại vật liệu lignoxenlulozơ khác nhau. Cho đến nay công thức của lignin vẫn chưa được xác định rõ ràng và chính xác. Mặc dù lignin ở các vật liệu lignoxenlulozơ 9 khác nhau nhưng người ta đã kết luận rằng trong phân tử lignin có chứa các nhóm (-OH), nhóm metoxyl (-OCH3) và nhân benzen.
Cấu trúc của lignin đa dạng, tùy thuộc vào loại gỗ, tuổi của cây hoặc cấu trúc của nó trong gỗ. Ngoài việc được phân loại theo lignin của gỗ cứng, gỗ mềm và cỏ, lignin có thể được phân thành hai loại chính: guaicyl lignin và guaicyl-syringly lignin. Gỗ mềm chứa chủ yếu là guaiacyl, gỗ cứng chứa chủ yếu syringyl. Nghiên cứu chỉ ra rằng guaiacyl lignin hạn chế sự trương nở của xơ sợi và vì vậy loại nguyên liệu đó sẽ khó bị tấn công Luận văn Khoa học Nghiên cứu bởi enzym hơn syringyl lignin.
Cấu trúc lignin được cấu thành thông qua trùng hợp một số loại phenylpropanoit, tạo ra phân tử lớn có cấu trúc mạng lưới. Nguyên nhân khó có thể làm rõ công thức của lignin là trong quá trình tách chiết, một phần cấu trúc bị biến tính nên khó thu được lignin ở trạng thái nguyên vẹn. Tuy nhiên, người ta đã đưa ra công thức chung của lignin như hình 1. Các đơn vị cơ bản cấu thành lignin như ở hình 1.8: Các đơn vị cơ bản của lignin Tính chất của lignin được quyết định bởi các nhóm chức hữu cơ bao gồm nhóm –OH phenol –OH ancol, metoxy, benzylic hiđroxyl, ete của benzylic với các ancol mạch thẳng và nhóm cacbonyl (hình 1.
Do có chứa nhiều loại nhóm chức khác nhau nên lignin tạo liên kết hóa học với hemixenlulzơ và ngay cả với xenlulozơ (nhưng không nhiều), đóng vai trò liên kết ngang trong các bó sợi xenlulozơ [16]. Các liên kết này có độ bền phụ thuộc vào bản chất liên kết, cấu trúc hóa học của lignin và các gốc saccarit tham gia liên kết. Cacbon anpha (C α) trong các phenylpropanoit là nơi có khả năng tạo liên kết cao nhất với khối hemixenlulozơ, có thể do hiệu ứng liên hợp của vòng benzen lên vị trí cacbon này. Các saccarit nằm ở mạch nhánh như arabinozơ, galactozơ, và axit 4 – O – metylglucuronic là các nhóm thường liên kết với lignin.
Các liên kết có thể là ete, este (liên kết với 10 xylan qua axit 4 – O – metyl – D – glucuronic), hay glicozit (phản ứng giữa nhóm khử của hemixenlulozơ và nhóm OH phenolic của lignin). Do lignin đóng vai trò liên kết ngang trong thành tế bào thực vật nên việc tách ra hoàn toàn và giữ nguyên được cấu trúc lignin là vấn đề không dễ. Luận văn Khoa học Nghiên cứu Hình 1.