Nghiên cứu các tác nhân gây gỉ và môi trường lưu trữ đối với di vật văn hóa chất liệu hợp kim đồng

Luận văn thạc sĩ môi trường nghiên cứu hus nghiên cứu các tác nhân gây gỉ và môi trường lưu trữ đối với các di vật văn hóa chất liệu hợp, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Chuyên ngành

Hóa vô cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2011

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Sơ lược về kỹ thuật luyện kim, chế tác hiện vật văn hóa chất liệu đồng và hợp kim đồng

1.2. Đồng và hợp kim đồng

1.3. Các hợp chất đồng

1.4. Các cơ chế ăn mòn hiện vật đồng

1.5. Các định luật cơ bản

1.5.1. Phương trình Nernst

1.5.2. Định luật Faraday

1.6. Các phương pháp xác định tốc độ ăn mòn

1.6.1. Phương pháp tổn hao khối lượng

1.6.2. Phương pháp xác định nồng độ hòa tan các chất vào dung dịch

1.6.3. Phương pháp điện hóa

1.7. Chất ức chế ăn mòn

1.7.1. Phân loại chất ức chế

1.7.1.1. Chất loại trừ tác nhân ăn mòn
1.7.1.2. Chất ức chế ở bề mặt tiếp xúc pha
1.7.1.3. Chất ức chế pha lỏng
1.7.1.4. Chất ức chế anốt
1.7.1.5. Chất ức chế catốt
1.7.1.6. Chất ức chế hỗn hợp
1.7.1.7. Chất ức chế trong pha hơi

1.7.2. Ví dụ về chất ức chế

1.7.2.1. Chất ức chế chứa nguyên tử oxy
1.7.2.2. Chất ức chế chứa nguyên tử nitrơ
1.7.2.3. Chất ức chế chứa nguyên tử lưu huỳnh
1.7.2.4. Polyme dẫn điện tử
1.7.2.5. Phức phối trí

1.7.3. Mức độ ăn mòn của một số kim loại trong các môi trường khác nhau

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM

2.1. Nội dung nghiên cứu

2.2. Giới thiệu mẫu

2.3. Tiến hành thí nghiệm

2.4. Tác nhân gây gỉ đồng

2.4.1. Axít nitơric đặc/nóng

2.4.2. Axít nitơric loãng

2.4.3. Axít sunphuric đặc/nóng

2.4.4. Dung dịch cường toan

2.5. Ức chế 1,2,3 BTA và phủ keo Paraloid –B72

2.6. Môi trường lưu giữ sau khi tạo gỉ

2.6.1. Trong phòng

2.6.2. Chôn trong đất

2.6.3. Bình ẩm bão hòa hơi nước

2.6.4. Để ngoài trời

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tốc độ ăn mòn của mẫu đồng hiện đại

3.2. Tốc độ ăn mòn của mẫu tiền đồng cổ

3.3. Khuyến nghị và đề xuất

KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác nhân gây gỉ và môi trường lưu trữ di vật văn hóa

Nghiên cứu về tác nhân gây gỉmôi trường lưu trữ di vật văn hóa là một lĩnh vực quan trọng trong bảo tồn di sản văn hóa. Các di vật văn hóa, đặc biệt là những hiện vật làm từ hợp kim đồng, thường phải đối mặt với nguy cơ gỉ sét do nhiều yếu tố khác nhau. Việc hiểu rõ các tác nhân này sẽ giúp đưa ra các phương pháp bảo quản hiệu quả hơn.

1.1. Các loại di vật văn hóa và chất liệu hợp kim đồng

Di vật văn hóa thường được chế tác từ nhiều loại chất liệu khác nhau, trong đó hợp kim đồng là một trong những chất liệu phổ biến nhất. Hợp kim đồng có nhiều loại, bao gồm đồng đỏ, đồng thanh và đồng thau, mỗi loại có đặc điểm và ứng dụng riêng. Việc phân loại và hiểu rõ thành phần của các hợp kim này là rất cần thiết để đánh giá khả năng chống gỉ của chúng.

1.2. Tác động của môi trường đến di vật văn hóa

Môi trường lưu trữ có ảnh hưởng lớn đến sự bền vững của di vật văn hóa. Các yếu tố như độ ẩm, nhiệt độ, và sự hiện diện của các ion gây gỉ như Cl- có thể làm tăng tốc độ ăn mòn. Việc nghiên cứu các điều kiện môi trường này sẽ giúp xác định các biện pháp bảo quản hiệu quả hơn cho di vật.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu tác nhân gây gỉ

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tác nhân gây gỉ, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết. Các nghiên cứu trước đây thường chỉ tập trung vào một số yếu tố nhất định mà không xem xét đầy đủ các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến quá trình gỉ sét.

2.1. Thiếu sót trong nghiên cứu các yếu tố gây gỉ

Nhiều nghiên cứu chỉ chú trọng đến các ion như Cl- mà không xem xét đến các ion khác có thể gây gỉ. Điều này dẫn đến việc thiếu sót trong việc đánh giá toàn diện các tác nhân gây gỉ và ảnh hưởng của chúng đến di vật văn hóa.

2.2. Khó khăn trong việc mô phỏng môi trường lưu trữ

Việc mô phỏng chính xác các điều kiện môi trường lưu trữ thực tế là một thách thức lớn. Nhiều thí nghiệm hiện tại sử dụng nồng độ cao của các tác nhân gây gỉ, không phản ánh đúng điều kiện thực tế mà di vật văn hóa phải đối mặt.

III. Phương pháp nghiên cứu tác nhân gây gỉ hiệu quả

Để nghiên cứu hiệu quả các tác nhân gây gỉ, cần áp dụng các phương pháp khoa học hiện đại. Các phương pháp này không chỉ giúp xác định tốc độ ăn mòn mà còn đánh giá được hiệu quả của các chất ức chế gỉ.

3.1. Phương pháp xác định tốc độ ăn mòn

Có nhiều phương pháp để xác định tốc độ ăn mòn của các mẫu hợp kim đồng, bao gồm phương pháp tổn hao khối lượng và phương pháp điện hóa. Mỗi phương pháp có ưu điểm và nhược điểm riêng, và việc lựa chọn phương pháp phù hợp là rất quan trọng.

3.2. Ứng dụng chất ức chế trong bảo quản di vật

Việc sử dụng các chất ức chế như 1,2,3 Benzotriazol đã cho thấy hiệu quả trong việc giảm tốc độ ăn mòn của di vật văn hóa. Nghiên cứu về các chất ức chế này cần được mở rộng để tìm ra các giải pháp bảo quản tốt hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu về tác nhân gây gỉmôi trường lưu trữ đã mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn trong việc bảo quản di vật văn hóa. Các phương pháp và chất ức chế được phát triển từ nghiên cứu này đã được áp dụng tại nhiều bảo tàng và cơ sở bảo tồn.

4.1. Kết quả từ các thí nghiệm thực tế

Các thí nghiệm thực tế đã chỉ ra rằng việc áp dụng các chất ức chế có thể làm giảm đáng kể tốc độ ăn mòn của di vật văn hóa. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu và phát triển các phương pháp bảo quản hiệu quả.

4.2. Khuyến nghị cho việc bảo quản di vật văn hóa

Dựa trên kết quả nghiên cứu, cần có các khuyến nghị cụ thể cho việc bảo quản di vật văn hóa. Việc lựa chọn môi trường lưu trữ phù hợp và sử dụng các chất ức chế hiệu quả sẽ giúp bảo tồn tốt hơn các di sản văn hóa.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu tác nhân gây gỉ

Nghiên cứu về tác nhân gây gỉmôi trường lưu trữ di vật văn hóa là một lĩnh vực đang phát triển. Cần tiếp tục nghiên cứu để tìm ra các giải pháp bảo quản hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản văn hóa.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu trong bảo tồn di sản

Nghiên cứu về các tác nhân gây gỉ không chỉ giúp bảo tồn di vật văn hóa mà còn góp phần vào việc gìn giữ lịch sử và văn hóa của dân tộc. Việc bảo tồn di sản văn hóa là trách nhiệm của toàn xã hội.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu

Trong tương lai, cần có sự hợp tác giữa các nhà khoa học, bảo tàng và các tổ chức văn hóa để phát triển các phương pháp bảo quản mới. Việc áp dụng công nghệ hiện đại vào nghiên cứu sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho việc bảo tồn di sản văn hóa.

18/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Vấn đề chống ăn mòn kim loại đồng và hợp kim đồng đã đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Trong nghiên cứu luyện kim thì nghiên cứu thành phần hợp kim nhƣ thế nào để thuận tiện cho việc đúc, giá thành nguyên liệu thấp mà khả năng chịu đƣợc ăn mòn cao. Trong thiết kế công trình xây dựng thì nghiên cứu hàn, nối nhƣ thế nào để dễ dàng tiêu thoát nƣớc bẩn ứ đọng trên chi tiết và dễ dàng thi công, sơn quét chất bảo quản. Các loại vật khớp nối, long đen, bu lông cũng đƣợc nghiên cứu khi kết nối các cấu kiện để giảm ăn mòn tiếp xúc.

Trong lĩnh vực hóa học thì nghiên cứu áp dụng các chất ức chế là các hợp chất hữu cơ nhƣ các bazơ azometin, aminoxeton, amin,. các phƣơng pháp chống ăn mòn điện hóa, đã đƣợc áp dụng hiệu quả trong nền kinh tế quốc dân. Với các hiện vật đồng và hợp kim đồng cổ đã đƣợc áp dụng chất ức chế 1,2,3- Benzotriazol phổ biến và cũng đã có một vài công trình tập trung nghiên cứu khả năng ức chế của 1,2,3 Benzotriazol đối với các mẫu đồng và hợp kim đồng phục vụ công tác bảo quản hiện vật trong bảo tàng. Các nghiên cứu trƣớc đây đều cắt bớt các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình gây gỉ và thừa nhận ảnh hƣởng của các yếu tố không đƣa vào nghiên cứu.

Chẳng hạn đối với các hợp kim đồng khác nhau ngƣời ta mới chỉ chú ý bảo quản đồng mà chƣa đánh giá vai trò của các nguyên tố phụ khác nhƣ Zn, Sn. nên đều áp dụng các chất ức chế với Cu mà bỏ qua vai trò của các nguyên tố khác trong hợp kim. Về các dạng ăn mòn chƣa chỉ ra dạng ăn mòn nào là chủ yếu và có các giải thích khoa học thuyết phục. Về tác nhân ăn mòn thì thừa nhận các ion gây gỉ mạnh nhất là Cl- để chỉ tiến hành kiểm tra loại bỏ Cl - đã hết chƣa mà không quan tâm đến các ion khác.

Chƣa khảo sát đầy đủ các điều kiện môi trƣờng lƣu giữ thực tế hiện vật, các thí nghiệm hầu hết dùng hai môi trƣờng NaCl, HCl để thử nghiệm ăn mòn, trong hai môi trƣờng này điều kiện nghiên cứu đƣợc tiến hành với nồng độ cao, không sát thực với thực tế. Những thí nghiệm với nồng độ tác nhân gây gỉ cao tạo ra phản ứng rửa trôi ngay các lớp gỉ vào dung dịch hoàn toàn khác với hiện tƣợng gỉ trong tự nhiên tạo ra các chất gỉ lắng đọng ngay trên bề mặt hiện vật. Hầu hết thí nghiệm trên mẫu vật hợp kim đồng mới, sạch chứ không giữ lại lớp patina gỉ nhƣ hiện vật khảo cổ. Vì vậy để làm cơ sở định hƣớng cho việc bảo quản các hiện vật đồng chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu các tác nhân gây gỉ và môi trƣờng lƣu giữ đối với các di vật văn hóa chất liệu hợp kim đồng”.

Để giải quyết vấn đề trên, chúng tôi đã tiến hành các nội dung sau: 1. Tập hợp và hệ thống hóa tƣ liệu 2. Lựa chọn mẫu hợp kim đồng cổ và hiện đại, xác định thành phần các nguyên tố cơ bản. Nghiên cứu cơ chế ăn mòn di vật đồng.

3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Xác định tốc độ ăn mòn khi đƣa các tác nhân gây gỉ và lƣu giữ trong các môi trƣờng khác nhau. So sánh tốc độ ăn mòn của các mẫu vật có ức chế gỉ và không ức chế gỉ. So sánh tốc độ ăn mòn của các mẫu vật mới và các đồng tiền cổ.

4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. Sơ lƣợc kỹ thuật luyện kim, chế tác hiện vật văn hóa chất liệu đồng và hợp kim đồng Trƣớc khi nghiên cứu kỹ thuật luyện kim, xin lƣợc qua các mốc lịch sử kỹ thuật, vừa là nhân tố cơ bản làm chuyển biến xã hội, vừa là thành tựu đạt đƣợc dựa trên môi trƣờng xã hội đó. Thời đại kim khí ở Bắc Việt Nam bắt đầu từ Văn Hóa Phùng Nguyên cách nay khoảng 4000 năm. Trải qua các giai đoạn Phùng Nguyên (4000 – 3500 BP), Đồng Đậu (3500-3200 PB), Gò Mun (3200-2700 BP), Đông Sơn 2700 PB – 300 AD).

Trong đó giai đoạn rực rỡ nhất là Văn hóa Đông Sơn, đã tạo ra các vật phẩm văn hóa trừu tƣợng về tƣ duy, tinh xảo về mỹ thuật, điêu luyện về kỹ thuật thể hiện trên các chiếc trống đồng, thạp đồng mà cho đến nay vẫn còn nhiều nghiên cứu, thực nghiệm cả về khoa học nhân văn và khoa học kỹ thuật nhƣng cũng chƣa giải hết. Tiếp sau là thời kỳ Bắc thuộc kéo dài từ TK 1 đến cuối TK 9, thời kỳ đen tối này hầu nhƣ không để lại thành tựu nào về kỹ thuật. Ngoại trừ chút ít loại gốm tráng men thƣờng không trang trí hoa văn, chất liệu kém, xƣơng gốm xốp là nhân tối mới, còn lại tất cả các kỹ thuật khác nhƣ luyện kim, mỹ thuật đều giảm sút nghiêm trọng. Tuy nhiên trong giao thƣơng cũng có nét tiến bộ hơn đó là việc sử dụng tiền kim loại để trao đổi mua bán hàng hóa thay cho hình thức hàng đổi hàng trƣớc đây.

Giai đoạn tự chủ bắt đầu từ Nhà Đinh thế kỷ 10 đến cuối nhà Nguyễn (1945) trong đó yếu tố mới về kỹ thuật luyện kim bắt đầu xuất hiện khi giao lƣu với phƣơng Tây. Đinh Tiên Hoàng (968-980) là triều đại đầu tiên cho đúc tiền Việt Nam với loại tiền Thái Bình Hƣng Bảo. Khởi đầu của giai đoạn tự chủ thời Lý, Trần mỹ thuật, kỹ thuật đƣợc phục hƣng. Cùng với các vật liệu kiến trúc, điêu khắc, gốm sứ, các vật phẩm bằng hợp kim đồng cũng xuất hiện trở lại.

Tiêu biểu là nhóm trống Hòa Bình, đồ thờ cúng nhƣ chuông, khánh, lƣu hƣơng, đỉnh đồng và ấm đồng. Nếu coi Chăm Pa trong Việt Nam thống nhất thì không thể không nhắc đến nhóm tƣợng đồng thờ các vị thần, các linh thú. Sang thời Lê, Nguyễn các vật phẩm đồng to và hoành tráng hơn nhƣ súng thần công, chuông, khánh, cửu đỉnh trong cung đình Huế hay tƣợng phật ở đền Quán Thánh, Hà Nội. Dƣới góc độ luyện kim thì nhân tố mới xuất hiện đó là hệ thống tiền kẽm bắt đầu từ nhà Trịnh kéo dài đến tận cuối nhà Nguyễn.

Việc sử dụng hợp kim đồng kẽm là một nhân tố mới trong lịch sử luyện kim đồng. Ngoài ra loại di vật “tam khí” nhƣ kiếm đồng cẩn vàng, bạc, đá quý, hay đồ cốt đồng tráng men trang trí ở loại hình lọ hoa cũng là những nét mới. Trong giai đoạn kim khí trên đất nƣớc ta có 2 vùng có kỹ thuật luyện kim phát triển. Vùng sớm hơn ở phía bắc thuộc hệ thống văn hóa Phùng Nguyên – 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đồng Đậu- Gò Mun- Đông Sơn có quan hệ mật thiết với Vân Nam, Lĩnh Nam (nam Trung Quốc) theo hệ thống sông Hồng, sông Đà và tƣơng đồng về niên đại.

Những tài liệu khảo cổ học hiện nay cho thấy cho tới giai đoạn trung kỳ hay hậu kỳ của thời Tây Chu, hiện vật đồng tìm thấy rải rác ở miền Trung và miền Tây Quảng Đông, miền Đông Quảng Tây (Linduff và tập thể 2000: 166-167). Mặt khác, những địa điểm nơi có hiện vật đồng nằm trong khung thời gian từ 3000 đến 1500 năm trƣớc công nguyên tập trung ở miền bắc, đông bắc và tây bắc Trung Hoa. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng đồ đồng miền Bắc Việt Nam muộn hơn đồ đồng bắc Trung Hoa song sớm hơn đồ đồng tây nam Trung Hoa và tƣơng đƣơng với đồ đồng đông nam Trung Hoa. Luyện kim Băc Trung Hoa sớm nhất từ thế kỷ 28 đến thế kỷ 21 trƣớc công nguyên.

Phần lớn là những hiện vật nhỏ làm bằng hợp kim đồng thiếc, đồng axenic trong những khu vực hạn chế, nơi có quặng đồng hay dọc theo dải quặng đồng. Hệ thống văn hóa Đồng Nai với những chứng tích tìm đƣợc khuôn đúc đồng hai mang bằng sa thạch tại Bƣng Bạc, Dốc Chùa, Hàng Gòn, Cù Lao Rùa.Thành phần hợp kim ở đây thuộc loại 3 thành phần Cu-Pb-Sn và Cu-Sn- Pb. Theo so sánh loại hình rìu cho thấy hệ thống luyện kim Đồng Nai có quan hệ về kỹ thuật luyện kim với đông bắc Thái Lan theo hệ thống sông Mê Kông. Cho đến nay, vấn đề nguồn gốc quặng để luyện đồng ở Việt Nam vào giai đoạn kim khí vẫn còn chƣa đƣợc biết rõ.

Việc nghiên cứu kỹ thuật luyện từ quặng ra đồng đồng nguyên liệu chƣa đƣợc hiểu rõ. Trong tất cả các nƣớc ở Đông Nam Á, mới chỉ có Thái Lan là nơi phát hiện đƣợc những vết tích của hoạt động khai khoáng đồng có niên đại khoảng 3000 năm cách ngày nay tại địa điểm Non Nok Tha và Bản Chiềng (đông bắc Thái Lan). Kết quả phân tích thành phần hóa học của các hiện vật đồng cổ cho thấy hầu hết đều có kim loại quý nhƣ Au, Ag vẫn nằm trong hợp kim chƣa đƣợc tách ra. Các kim loại Cr, Ni có hàm lƣợng vết, rất ít.

Ngƣời ta vẫn chƣa biết liệu vào giai đoạn kim khí ở Việt Nam đã biết luyện quặng chƣa hay chỉ thông qua trao đổi các đồ đồng cũ hay đồng nguyên liệu và rồi chỉ tham gia vào công đoạn đúc, chế tác sản phẩm. Trong Bản quốc sản xứ ký (dẫn trong Dƣ địa chí của Nguyễn Trãi) và Lịch chiều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú cho biêt hàng chục tên mỏ đã đƣợc khai thác ở Thanh hóa, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, các mỏ có trữ lƣợng nhỏ, nông hoặc lộ thiên [17]. Hiện nay vấn đề nghiên cứu nguồn gốc quặng đồng vẫn đang đƣợc tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu về thành phần đồng vị Pb tại các mỏ quặng cũng nhƣ trên hiện vật để có dữ liệu đối sánh. Đồng và hợp kim đồng Theo tiêu chí phân loại các thành phần nào có hàm lƣợng từ 1% trở nên đƣợc coi là yếu tố nhân tạo, đƣợc con ngƣời phối trộn vào tạo thành hợp kim.

những thành phần có hàm lƣợng nhỏ hơn đƣợc cho là tạp chất. Dựa vào hàm lƣợng thành phần ngƣời ta viết hợp kim theo thứ tự từ nguyên tố nhiều nhất đến nguyên tố thấp nhất. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo phân loại hợp kim đồng hiện đại đƣợc phân ra làm 3 loại cơ bản: - Đồng đỏ (copper) là đồng nguyên chất có hàm lƣợng 99% trở nên. - Đồng thanh (bronze) là hợp kim đồng thiếc Cu –Sn.

- Đồng thau (brass) là hợp kim đồng kẽm Cu –Zn Tuy nhiên ngoài những hơp kim trên, trong các hợp kim cổ có tới khoảng hơn 10 loại hợp kim, với thành phần có thể lên đến 4-5 thành phần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ