Nghiên Cứu Sự Biến Đổi Tính Chất Nước Suối Tân Long Dưới Tác Động Của Nước Thải Mỏ Than Khánh Hòa

Nghiên cứu sự biến đổi tính chất lý hóa nước suối Tân Long dưới tác động nước thải mỏ than Khánh Hòa, tỉnh Thái Nguyên và bảo vệ môi trường.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2012

92
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Giới thiệu chung về khu vực nghiên cứu

1.2. Vị trí địa lý, ranh giới hành chính

1.3. Điều kiện khí tượng, thuỷ văn khu vực mỏ than Khánh Hoà

1.4. Đặc điểm địa hình địa chất mỏ than Khánh Hoà

1.5. Hoạt động khai thác và đổ thải tại mỏ than Khánh Hòa

1.6. Hoạt động khai thác tại mỏ than Khánh Hòa và những vấn đề về ô nhiễm môi trường

1.7. Thành phần chất thải và đặc điểm các bãi thải mỏ

1.8. Ảnh hưởng của nước thải mỏ đến môi trường nước ở các lưu vực xung quanh

1.9. Nguy cơ tiềm ẩn tại các bãi đổ thải do đặc tính keo của sét trong thành phần thải

1.10. Cơ chế hoạt động của keo sét và vấn đề ô nhiễm môi trường nước xung quanh bãi thải mỏ

1.11. Cơ chế phân tán khoáng sét

1.12. Ảnh hưởng của một số tính chất lý - hóa đến đặc tính keo của sét

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu chất lượng nước

2.4. Các chỉ tiêu hóa lý cơ bản của mẫu nước được xác định theo các phương pháp liệt kê trong bảng

2.5. Phương pháp nghiên cứu mẫu trầm tích và mẫu đất

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Một số tính chất lý - hóa của nước thải mỏ

3.2. Tính chất lý học của nước thải mỏ

3.3. Chất rắn lơ lửng

3.4. Tính chất hóa học đặc trưng của nước thải mỏ

3.5. Một số tính chất lý - hóa nước suối Tân Long dưới tác động của nước thải mỏ than Khánh Hòa

3.6. Các kim loại nặng trong nước mặt suối Tân Long

3.7. Đặc điểm trầm tích suối và mối quan hệ đến độ đục nước suối

3.8. Một số đặc tính của trầm tích suối Tân Long

3.9. Ảnh hưởng của các yếu tố pH, cation và anion lên đặc tính keo của khoáng sét trong trầm tích suối Tân Long

3.9.1. Ảnh hưởng của các cation

3.9.2. Ảnh hưởng của anion sunphat (SO42-) đến khả năng phân tán khoáng sét trong mẫu trầm tích và độ đục của nước suối

3.9.3. Ảnh hưởng của pH

3.10. Đặc tính keo của thành phần sét trong các bãi thải mỏ và nguy cơ tiềm ẩn đối với chất lượng nước suối Tân Long

3.11. Thành phần cấp hạt sét trong mẫu đất thải mỏ

3.12. Thành phần khoáng sét trong đất nghiên cứu

3.13. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng lên đặc tính keo của khoáng sét

3.13.1. Ảnh hưởng của pH

3.13.2. Ảnh hưởng của các cation lên đặc tính keo của khoáng sét

3.13.3. Ảnh hưởng của các anion đến sự tụ keo của khoáng sét

3.14. Tác động của keo sét đến lưu vực suối Tân Long

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Tác Động Nước Thải Mỏ Than Suối Tân Long

Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá tác động nước thải mỏ than Khánh Hòa đến tính chất nước suối Tân Long, Thái Nguyên. Hoạt động khai thác than, dù mang lại lợi ích kinh tế, nhưng đồng thời gây ra những hệ lụy về môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước. Việc khai thác than sử dụng công nghệ lạc hậu có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá mức độ ô nhiễm và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nước suối do hoạt động khai thác than gây ra. Theo số liệu tại mỏ than Khánh Hòa, để khai thác được 1 tấn than thì khối lượng đất đá cần bóc đi từ 8 đến 10 m3 đất phủ, thải ra 1 đến 3 m3 nước thải.

1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên khu vực mỏ than

Mỏ than Khánh Hòa nằm trên địa bàn xã Phúc Hà, thành phố Thái Nguyên. Khu vực này có khí hậu đặc trưng của vùng trung du miền núi Bắc Bộ, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa (tháng 5 - tháng 10) và mùa khô (tháng 11 - tháng 4). Hệ thống sông suối quanh khu vực mỏ bao gồm suối Khánh Hoà (suối Huyền), suối Nam Tiền, suối Sơn Cẩm, đây là các phụ lưu chính đổ vào suối Tân Long trước khi tiếp nhận nước thải của mỏ than Khánh Hoà. Địa hình mỏ than Khánh Hoà nằm trong thung lũng kéo dài huớng Tây Bắc – Đông Nam, với chiều dài khoảng 6km, chiều rộng 600-700m.

1.2. Hoạt động khai thác than và vấn đề ô nhiễm môi trường

Hoạt động khai thác than tại mỏ Khánh Hòa đã diễn ra trong nhiều năm, với sản lượng khai thác đáng kể. Tuy nhiên, quá trình này cũng tạo ra lượng lớn chất thải, bao gồm đất đá và nước thải. Các bãi thải mỏ không được quản lý chặt chẽ có thể gây ra những sự cố sạt lở, ảnh hưởng đến hệ sinh thái nước và sức khỏe cộng đồng. Để làm ra được 1 tấn than phải bốc xúc trên 10 tấn đất đá. Như vậy, các bãi thải của công trường khai thác lâu dần sẽ cao lên gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và cộng đồng dân cư khu vực xung quanh.

II. Phân Tích Thành Phần Nước Thải Mỏ Than Ảnh Hưởng Đến Suối

Nước thải từ mỏ than Khánh Hòa chứa nhiều chất ô nhiễm, bao gồm chất rắn lơ lửng (TSS), kim loại nặng (KLN) và các ion như sunfat (SO42-). Các chất này có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nước của suối Tân Long, làm thay đổi độ pH, độ đục và hàm lượng các chất ô nhiễm. Việc phân tích thành phần nước thải là rất quan trọng để đánh giá mức độ ô nhiễm và đề xuất các biện pháp xử lý phù hợp. Trong nước thải mỏ có nguyên tố lưu huỳnh là kết quả quá trình hoạt động của vi sinh vật. Than để lâu ngày, lưu huỳnh sunphat sinh ra thay thế dần lưu huỳnh pyrit.

2.1. Các chỉ tiêu lý hóa cơ bản của nước thải mỏ than

Nước thải mỏ than thường có độ pH thấp, chứa hàm lượng lớn chất rắn lơ lửng, sunphat và các kim loại nặng như sắt (Fe), mangan (Mn), asen (As) và chì (Pb). Các chất này có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và đa dạng sinh học của hệ sinh thái nước. Nước trong hầm mỏ có độ pH thấp, chứa hàm lượng lớn chất rắn lơ lửng, sunphat và hàm lượng các kim loại nặng (Fe, Mn,. )

2.2. Ảnh hưởng của nước thải mỏ đến chất lượng nước suối Tân Long

Nước thải mỏ có thể làm tăng độ đục, hàm lượng chất rắn lơ lửng và nồng độ các kim loại nặng trong nước suối Tân Long. Điều này có thể ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạtnguồn nước tưới tiêu của người dân địa phương. Ảnh hưởng từ nước thải mỏ đã làm cho chất lượng nước mặt tại các điểm sông, suối, ao, hồ khu vực lân cận mỏ than bị suy giảm. Trong đó, chất lượng nước mặt tại lưu vực bao quanh mỏ có dấu hiệu ô nhiễm nặng về chất rắn lơ lửng, độ đục.

III. Nghiên Cứu Trầm Tích Suối Tân Long Liên Quan Độ Đục Nước

Nghiên cứu trầm tích suối Tân Long giúp hiểu rõ hơn về nguồn gốc và sự tích tụ của các chất ô nhiễm trong nước. Thành phần và tính chất của trầm tích có thể ảnh hưởng đến độ đục của nước suối, cũng như khả năng hấp phụ và giải phóng các chất ô nhiễm. Việc nghiên cứu trầm tích là cần thiết để đánh giá tác động môi trường lâu dài của hoạt động khai thác than. Để xác định được những ảnh hưởng này, cần phải có những nghiên cứu cụ thể.

3.1. Thành phần và tính chất của trầm tích suối Tân Long

Trầm tích suối Tân Long có thể chứa các khoáng sét, oxit kim loại và các chất hữu cơ. Thành phần và tính chất của trầm tích có thể thay đổi theo thời gian và không gian, tùy thuộc vào nguồn gốc và quá trình vận chuyển của các chất ô nhiễm. Trong các thành phần này, mức độ phong hoá của bột kết chậm hơn so với các đá khác, đá được tạo bởi sét kết bị phong hoá nhanh, dễ nứt nẻ, vỡ vụn, khi gặp nước thì chảy nhão nên dễ gây bồi lắng, lụt lội và trượt lở bãi thải.

3.2. Mối quan hệ giữa trầm tích và độ đục của nước suối

Các hạt sét trong trầm tích có thể lơ lửng trong nước, làm tăng độ đục của nước suối. Ngoài ra, trầm tích cũng có thể hấp phụ các chất ô nhiễm, sau đó giải phóng chúng vào nước khi có sự thay đổi về điều kiện môi trường. Khoáng sét có khả năng hút giữ nước, trương nở và “di động” trong môi trường lỏng khi tồn tại ở trạng thái tán keo.

IV. Ảnh Hưởng pH Cation Anion Đến Đặc Tính Keo Khoáng Sét

Độ pH, cation và anion có ảnh hưởng đáng kể đến đặc tính keo của khoáng sét trong trầm tích suối Tân Long. Sự thay đổi về pH có thể làm thay đổi điện tích bề mặt của khoáng sét, ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ và phân tán của chúng. Các cation và anion có thể tương tác với khoáng sét, làm thay đổi khả năng keo tụ và ổn định của chúng. Do vậy, việc xác định khả năng “di động” của khoáng sét là rất quan trọng.

4.1. Ảnh hưởng của pH đến đặc tính keo của khoáng sét

Độ pH thấp có thể làm tăng tính axit của nước, làm hòa tan các khoáng sét và giải phóng các ion kim loại vào nước. Độ pH cao có thể làm tăng tính kiềm của nước, làm kết tủa các khoáng sét và giảm độ đục của nước. Nước trong hầm mỏ có độ pH thấp, chứa hàm lượng lớn chất rắn lơ lửng, sunphat và hàm lượng các kim loại nặng (Fe, Mn,. )

4.2. Ảnh hưởng của cation và anion đến sự phân tán khoáng sét

Các cation như canxi (Ca2+) và magiê (Mg2+) có thể làm tăng khả năng keo tụ của khoáng sét, làm giảm độ đục của nước. Các anion như sunfat (SO42-) có thể làm tăng khả năng phân tán của khoáng sét, làm tăng độ đục của nước. Sunphat nằm ở dạng muối sắt và axit sunfuric là những chất tan trong nước, đây cũng là nguyên nhân làm cho hàm lượng các ion SO42- cao trong nước thải mỏ cũng như các lưu vực bao quanh mỏ.

V. Đề Xuất Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Nước Suối Tân Long

Để giảm thiểu ô nhiễm nước suối Tân Long do hoạt động khai thác than, cần có các giải pháp đồng bộ, bao gồm: Xử lý nước thải mỏ trước khi xả ra môi trường; Quản lý chặt chẽ các bãi thải mỏ; Phục hồi các khu vực bị ô nhiễm; Nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường. Ngoài ra, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư. Hoạt động khai thác than lộ thiên còn làm hạ thấp tầng chứa nước ngầm, làm suy giảm trữ lượng nước và có nguy cơ bị axit hóa cao.

5.1. Các công nghệ xử lý nước thải mỏ than hiệu quả

Các công nghệ xử lý nước thải mỏ than có thể bao gồm: Lắng lọc, keo tụ, hấp phụ, trao đổi ion và xử lý sinh học. Việc lựa chọn công nghệ phù hợp cần dựa trên thành phần và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.

5.2. Quản lý và phục hồi các bãi thải mỏ than bền vững

Quản lý các bãi thải mỏ than cần đảm bảo an toàn, tránh sạt lở và ngăn ngừa ô nhiễm. Phục hồi các khu vực bị ô nhiễm có thể bao gồm: Trồng cây xanh, cải tạo đất và xử lý nước thải. Tác động của bãi thải đến môi trường xảy ra trên diện rộng và theo chiều sâu: - Tác động đến địa hình, địa mạo. - Thay đổi độ cao: phức tạp hoá địa hình, tăng độ tương phản, tăng độ chênh cao tương đối giữa các dạng địa hình, giảm thế năng địa hình.

VI. Kết Luận và Khuyến Nghị Nghiên Cứu Tác Động Nước Thải Mỏ Than

Nghiên cứu này đã đánh giá tác động của nước thải mỏ than Khánh Hòa đến tính chất nước suối Tân Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động khai thác than đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nước suối. Để bảo vệ nguồn nước và sức khỏe cộng đồng, cần có các giải pháp đồng bộ và bền vững. Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên TS. Nguyễn Ngọc Minh, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sự biến đổi một số tính chất lý - hóa nước suối Tân Long dưới tác động của nước thải mỏ than Khánh Hòa, tỉnh Thái Nguyên” được đặt ra với những mục tiêu và nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:

6.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu chính về ô nhiễm nước suối

Nước thải mỏ than đã làm tăng độ đục, hàm lượng chất rắn lơ lửng và nồng độ các kim loại nặng trong nước suối Tân Long. Trầm tích suối có thể chứa các chất ô nhiễm và ảnh hưởng đến độ đục của nước. Độ pH, cation và anion có ảnh hưởng đến đặc tính keo của khoáng sét trong trầm tích.

6.2. Khuyến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo và chính sách môi trường

Cần có các nghiên cứu sâu hơn về tác động của nước thải mỏ than đến hệ sinh thái nước và sức khỏe cộng đồng. Cần có các chính sách môi trường hiệu quả để quản lý và giảm thiểu ô nhiễm nước do hoạt động khai thác than. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sự biến đổi một số tính chất lý hóa nước suối tân long dưới tác động của nước thải mỏ than khánh hòa tỉnh thái nguyên môi trường và bảo vệ môi trường

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong thời kì hội nhập kinh tế toàn cầu, đất nước ta đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phấn đấu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Nền kinh tế đất nước tăng trưởng đáng kể, đạt được nhiều thành tựu. Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế cũng nảy sinh những vấn đề không nhỏ về môi trường. Để phục vụ cho sản xuất, phát triển công nghiệp, một lượng tài nguyên khoáng sản như than, đá.

bị khai thác, trong đó than là khoáng sản được khai thác đã có lịch sử kéo dài và quy mô khai khác trên diện rộng khắp các tỉnh thành cả nước. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là hiện nay việc khai thác than sử dụng công nghệ còn quá lạc hậu và thường gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Thái Nguyên là tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú cả về chủng loại và trữ lượng. Thêm vào đó, Thái Nguyên còn là trung tâm văn hoá - kinh tế - xã hội của các tỉnh miền núi phía Đông Bắc, là cầu nối giao thông giữa các tỉnh phía Đông Bắc với Hà Nội, Tây Bắc và các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ, rất thuận lợi cho việc phát triển ngành công nghiệp.

Được đánh giá là tỉnh có trữ lượng than lớn thứ hai trong cả nước, với 15 triệu tấn than mỡ và khoảng 90 triệu tấn than đá, phân bố ở các mỏ lớn thuộc các huyện trên địa bàn tỉnh như mỏ than Khánh Hòa, mỏ than Phấn Mễ, mỏ than Núi Hồng…, ngành khai thác than đã và đang phục vụ đắc lực cho công nghiệp luyện kim của tỉnh, điển hình là mỏ than Khánh Hòa với sản lượng khai thác hiện nay trên 700.000 tấn/năm, đóng góp rất lớn cho ngân sách của tỉnh mỗi năm. Nhưng bên cạnh nguồn lợi to lớn mà ngành công nghiệp than đem lại thì vấn đề môi trường liên quan đến hoạt động khai thác than cũng rất đáng quan tâm. Theo số liệu tại mỏ than Khánh Hòa, để khai thác được 1 tấn than thì khối lượng đất đá cần bóc đi từ 8 đến 10 m3 đất phủ, thải ra 1 đến 3 m3 nước thải. Quá trình khai thác kéo dài nhiều năm dẫn đến các bãi thải của công trường khai thác ngày càng mở rộng về số lượng và quy mô, và có những tác động đến hệ sinh thái và sức khỏe của cộng đồng dân cư sống ở khu vực xung quanh.

Tại các bãi thải mỏ, thành phần chủ z yếu của chất thải trên các bãi thải là đất đá do nổ mìn gồm: cát kết, bột kết, sét kết và đất phủ. Trong các thành phần này, mức độ phong hoá của bột kết chậm hơn so với các đá khác, đá được tạo bởi sét kết bị phong hoá nhanh, dễ nứt nẻ, vỡ vụn, khi gặp nước thì chảy nhão nên dễ gây bồi lắng, lụt lội và trượt lở bãi thải. Để xác định được những ảnh hưởng này, cần phải có những nghiên cứu cụ thể. Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên TS.

Nguyễn Ngọc Minh, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sự biến đổi một số tính chất lý - hóa nước suối Tân Long dưới tác động của nước thải mỏ than Khánh Hòa, tỉnh Thái Nguyên” được đặt ra với những mục tiêu và nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:  Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá những ảnh hưởng từ hoạt động khai thác than tại mỏ than Khánh Hòa các bãi thải mỏ đến chất lượng nước suối Tân Long. Tác động của nước thải mỏ và nước chảy tràn từ các bãi đổ thải là những nguồn tác động chủ yếu và sẽ được tìm hiểu kỹ lưỡng trong nghiên cứu này. - Dự báo và đề xuất giải pháp giảm thiểu các ảnh hưởng của hoạt động khai thác than tại mỏ Khánh Hòa đến chất lượng nước suối Tân Long.  Nội dung nghiên cứu - Thu thập điều tra, tổng hợp đánh giá sơ bộ các hoạt động kinh tế xã hội trong vùng tiến hành nghiên cứu.

- Hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trong vùng nghiên cứu. - Nghiên cứu sự rửa trôi khoáng sét tại các bãi thải mỏ. - Đánh giá ảnh hưởng của một số thành phần chất thải đến chất lượng nước mặt của suối Tân Long.  Phƣơng pháp nghiên cứu - Thu thập điều tra, tổng hợp hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trong vùng nghiên cứu.

- Xác định các tính chất lý hóa cơ bản của nước suối Tân Long - Xác định thành phần và tính chất của trầm tích suối Tân Long - Nghiên cứu thành phần sét và nguy cơ rửa trôi khoáng sét tại các bãi thải mỏ. z Chƣơng I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về khu vực nghiên cứu 1. Vị trí địa lý, ranh giới hành chính Mỏ than Khánh Hòa nằm trên địa bàn xã Phúc Hà thuộc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam.

Xã nằm ở phía Tây -Tây Bắc của khu vực trung tâm thành phố. Toạ độ địa lý của mỏ như sau: 21o37’38’’ – 21o36’00’’ Vĩ độ Bắc. Tiếp giáp các phía của mỏ như sau: - Phía Đông giáp cánh đồng lúa. - Phía Tây giáp khu dân cư và phụ lưu suối Tân Long.

- Phía nam giáp khu dân cư và cánh đồng lúa. - Phía Bắc giáp khu dân cư và lưu vực suối Tân Long. Mỏ nằm ở phía Đông và phía Bắc xã Phúc Hà. Phía Đông Nam của mỏ là trụ sở UBND xã Phúc Hà và trường tiểu học xã Phúc Hà.

Xung quanh khu vực mỏ có gần 100 hộ dân sinh sống, trong đó: Khu vực khai trường cách hộ dân gần nhất là: 500m. Khu vực bãi thải cách hộ dân gần nhất là: 50m. Hệ thống sông suối quanh khu vực mỏ bao gồm suối Khánh Hoà (suối Huyền), suối Nam Tiền, suối Sơn Cẩm, đây là các phụ lưu chính đổ vào suối Tân Long trước khi tiếp nhận nước thải của mỏ than Khánh Hoà. Điều kiện khí tƣợng, thuỷ văn khu vực mỏ than Khánh Hoà a/ Điều kiện khí tượng: Mỏ than Khánh hoà nằm tại địa phận xã Phúc Hà - thành phố Thái Nguyên, do đó có các đặc điểm khí hậu của khu vực thành phố Thái Nguyên và mang những z nét đặc trưng khí hậu của vùng trung du miền núi Bắc bộ, được chia làm hai mùa rõ rệt.

Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khố kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. - Nhiệt độ trung bình năm đạt khoảng 360C trong đó có nhiệt độ trung bình cao nhất đạt 28,80c và trung bình thấp nhất khoảng 170C. - Độ ẩm không khí của khu vực khá cao, trung bình đạt 82%, độ ẩm trung bình lớn nhất 88%và trung bình thấp nhất đạt 77%. - Tổng số giờ nắng trung bình tháng khoảng 113giờ/tháng.

- Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất là tháng 7 và tháng nhỏ nhất là tháng 2. - Hướng gió thịnh hành tại khu vực mỏ là Đông Bắc (mùa đông) và Đông Nam (mua hè). b/ Điều kiện thuỷ văn: - Nước mặt: trong khu vực mỏ than chủ yếu là hệ thống suối Sơn Cẩm, suối Khánh Hoà suối Huyền), suối Nam Tiền, đây là các phụ lưu chính đổ vào suối Tân Long rồi đổ ra sông Cầu. Lưu lượng của các suối được thống kê trong bảng 1.

Thống kê lưu lượng các suối chính Suối Suối Suối Suối Tên suối Khánh Hoà Sơn Cẩm NamTiền Tân Long (Suối Huyền) Lưu lượng nhỏ nhất 0,08 128 0,02 390 (l/s) Lưu lượng lớn nhất 241 5.967 (l/s) - Nước dưới đất: + Nước trong lớp phủ đệ tứ: lớp phủ đệ tứ có thành phần cuội, sạn, cát, sét và đất trồng, chiều dày từ vài mét đến 9 - 10m. Lớp này có đặc điểm về mùa mưa thì gần như bão hoà nước, nhưng mùa khô thì gần như cạn kiệt nước. Nguồn bổ sung và cung cấp nước là nước mưa, miền thoát nước là các tầng đá của tầng chứa than. z + Nước trong địa tầng chứa than: tầng chứa nước trong địa tầng chứa than có thành phần chủ yếu là đá vôi, sét và một số lớp cát, bột kết và bột kết vôi.

Phần nông trong các lớp đá vôi sét có hang cactơ. Đặc điểm địa hình địa chất mỏ than Khánh Hoà a/ Địa hình mỏ than Khánh Hoà: Mỏ than Khánh Hoà nằm trong thung lũng kéo dài huớng Tây Bắc – Đông Nam, với chiều dài khoảng 6km, chiều rộng 600-700m. Địa hình trong lòng thung lũng dốc từ phía Tây Bắc (với độ cao trung bình khoảng 32m) xuống phía Đông Nam (độ cao trung bình khoảng 28m). Phía Nam và Đông Nam thung lũng là các dải đồi thấp với độ cao từ +30m đến +70m và có một số đỉnh đồi có độ cao +150m.

b/ Địa chất: Địa tầng: Trầm tích chứa than của mỏ Khánh Hoà được xếp vào hệ trias, thống lượng, bậc Nori-Rêti, điệp Bá Sơn (T3n-rbs Bá Sơn). Tầng trầm tích này phân bố từ Cao Ngạn qua Quán Triều dọc theo thung lũng Nam Tiền làng Ngò An Khánh-Bá Sơn với chiều dài trên 6km. Thành phần bao gồm: Các lớp hạt thô: gồm sạn kết, bột kết chiếm tỉ lệ không lớn. Hoạt động khai thác và đổ thải tại mỏ than Khánh Hòa Tính từ năm 1954 đến 2006, mỏ than Khánh Hòa khai thác được gần 5.

Tính riêng từ năm 1980 đến 2006, tổng sản lượng than nguyên khai khai thác tại mỏ là 3. Quá trình khai thác lộ thiên đã làm thay đổi địa hình nguyên thủy của khu vực [3]. Trong 5 năm gần đây sản lượng than khai thác tăng đáng kể (trong năm 2011 đã bóc 7.000 m3 đất đá; khai thác được 705.000 tấn than nguyên khai; tiêu thụ 853. Một trong những vấn đề môi trường cấp bách cần được quan tâm đó là các bãi thải của mỏ than và nước thải thoát ra từ mỏ.

Để làm ra được 1 tấn than phải bốc xúc trên 10 tấn đất đá [5]. Như vậy, các bãi thải của công trường khai thác lâu dần sẽ cao lên gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và cộng đồng dân cư khu vực xung quanh. Ngoài ra, do quy mô khai thác ngày một tăng, diện tích moong càng ngày càng mở rộng, lượng nước thải z phát sinh do tháo khô mỏ lớn >3.đ và không được thu gom xử lý triệt để sẽ là tác nhân lớn làm ô nhiễm môi trường nước và làm thay đổi chất lượng nước suối tiếp nhận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tác Động Của Nước Thải Mỏ Than Đến Tính Chất Nước Suối Tân Long" cung cấp cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng của nước thải từ hoạt động khai thác than đến chất lượng nước tại suối Tân Long. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra những tác động tiêu cực mà còn đề xuất các giải pháp quản lý và xử lý nước thải hiệu quả, nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức nước thải ảnh hưởng đến hệ sinh thái và các biện pháp cần thiết để giảm thiểu tác động này.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực xử lý nước thải, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu cố định chủng vi khuẩn pseudomonas trong hệ thống lọc sinh học để xử lý nước thải công nghiệp chế biến sữa, nơi trình bày các phương pháp sinh học trong xử lý nước thải. Bên cạnh đó, tài liệu Đánh giá tác động của nước thải tới chất lượng môi trường nước tại khu công nghiệp song khê huyện yên dũng tỉnh bắc giang và đề xuất giải pháp quản lý nông sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của nước thải trong các khu công nghiệp. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu ứng dụng c tech để xử lý nước thải sinh hoạt trong điều kiện việt nam cung cấp cái nhìn về công nghệ hiện đại trong xử lý nước thải sinh hoạt. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến nước thải và môi trường.