phần mở đầu, Việt Nam là một trong 5 quốc gia trên th giới bị tác động nhiều nhất của hiện tượng BDKH mà cụ thé là hiện tượng nước biển dâng cao ~ hậu quả tăng nhiệt độ lâm bề mặt ri dắt nóng lên do phát thải khí nha kính (KNK). Ông Bernard O'Callaghan là Điều phối viên chương trình. “Tổ chức Bao tồn thiên nhiên thể giới đã đưa ra bản báo cáo có nhan đề *Cuộc chiến chống lại biển đãi khí hậu: Đoàn kết nhân loại trong một thé giới phan các cho biết Nếu mực nước biển ding cao như dự bảo vào năm 2030 thi ving đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ có khoảng 4 % diện tích đất bị nhiễm mặn quá mức cho phép, năng suất lúa sẽ giảm 9%. Nếu mực nước biển dâng cao 1 mét, phần lớn ĐBSCL sẽ hoàn toàn ngập tring nhiều thai gian dai trong năm.
Theo nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác vả Phát triển kinh tế (OECD), Thanh phố Hồ Chi Minh nằm trong danh sách 10 thành phổ bị de dọa nhiều nhất bởi BĐKII (gồm Calcutta và Bombay của An Độ, Dacca của Bangladesh, Thượng Hai, Quảng Châu của Trung Quốc, TP.Hồ Chi Minh của Việt Nam, Bangkok của Thái Lan, Yangon của Myanmar) Theo bản báo cáo về phát triển con người 2007-2008 của UNDP, nếu nhiệt độ trên trái đắt tăng thêm 2°C, thi khoảng 22 triệu người ở Việt Nam sẽ mắt nhà cửa và 45% diện tích đất nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập chim trong nước biển. “Theo cảnh báo của IPCC, đến năm 2100, nếu mực nước biển đãng cao thêm 1 mét sẽ ảnh hưởng đến 5% đất đai, 10% dân số, tác động đến 7% sản xuất nông. nghiệp, lâm giảm 10% GDP của Việt Nam (nguồn: Dagupta.2007), riêng sản xuất kinh t biển sẽ giảm ít nhất 1/3 so với hiện nay (nguồn UNDP), Côn theo nghiền cứu của Ngân hàng Thể giới (WB), nếu nước biễn ding cao Im, cổ tối 27% sinh cảnh tự nhiễn quan trọng, 33% khu bảo tồn, 23% khu vực cổ st đa dạng sinh học chỉnh của Việt Nam bị tác động. Tại hội thio “Đánh gid nhu cầu nâng cao năng lực về biến đổi khí bậu cho các tổ chức phí chính phi”, các đại biêu xác nhận, nêu nước biển dang cao 30cm thì ĐBSCL sẽ có thể bị n mặn thêm 10km, nguy cơ mặn hóa ở ĐBSCL làm giảm 9% năng uất cây trồng vật nuôi vào năm 2030.
Theo đánh giá của ông Vũ Thái “Trường thuộc Tổ chức CARE quốc dâng Sem, đến năm 2070 có thé ding 69 em, năm 2100 nước biễn có thể sẽ đăng tới khoảng 1 mét. Nếu nước biển dâng cao theo dự báo như vậy sẽ ảnh hưởng đến 12% diện ích và 10,8% dân số khiển 22 triệu người mắt nhà của và làm giãm 10% GDP. Ông Trường nhắn mạnh: nếu nước biển ding cao thêm 1 mét thì Đồng bing S Hồng (ĐBSH) sẽ bị ngập khoảng 5.000km”, ĐBSCL sẽ bị ngập 200.000 km? di mắt đất và giảm sản lượng lương thực tới 12% (S trigu tấn) tại ĐBSH, ĐBSCLL.20% sản lượng ngô và 10% sản lượng lúa gạo. Khi nang suất sản lượng vật nuôi giảm th tình hình dịch bệnh cũng gia tăng, da dang sinh học trong lâm nghiệp cũng bị tác động mạnh mẽ.
“Tại Hội thảo khoa học BĐKH toàn cầu và giải pháp ứng phổ của Việt Nam tổ chức tại Hà Nội từ ngày 26 đến 29/03/2008, nhí nhà khoa học trong nước và quốc ea có chung nhận định: nếu mực nước bị dâng lên Im sẽ làm cho 1/5 diện tích lãnh thổ bị ngập chim trong nước, khoảng 22 triệu người dân sẽ bị mắt nhà cửa và đất đai canh tác. Riêng vùng ĐBSCL, khi mực nước biển dang cao từ 0,2 m đến 0,6m sẽ có 1.708km? đất bị ngập ảnh hưởng tới hing chục triệu người sinh sống, Dưới đây làm tôm lược một số nhận định và kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học trong nước đã trình bảy tại Hội thảo: - PGS.TS Trin Thục - Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Moi trường cho biết "Chỉ in nước biển dâng lên một mét chúng ta sẽ mat đi một điện ích đất khoảng 15.0001 * = 20 000 ke tại Đẳng bằng sông Cứu Long" - Nhà khoa học Nguyễn Khắc Hiểu đã trình bảy tôm tắt một số phác thảo kịch bản BDKH ở Việt Nam được trình bày trong các bảng 1. Thông báo Quốc gia về Biến đổi khí hậu ở Việt Nam (so với năm. 1990) Năm | Nhiệ độ ting thém CC) Mực nước biển tăng thêm (em) 2010 03-05 9 2050 118 33 2100 1,5 4 Bang 1.
Kịch bản BĐKH các vùng của Việt Nam (nhiệt độ tăng thêm °C so với năm 1990) Nam [hie [BÁC bing [Trang| Trungmp | Nguyen | 8 BỆ 2050 | 1,41 1,66 144 168 | 13 1,01 121 210 |349| đâu | AI «| om | 289 | 280 "Bảng LÄ, Kjch bản nue biến ding ở Việt Nam so vối năm 1990(cm) Nm Kịch ban 2050 2100 AIF Ba 37 ^ 1 al AIB BS 3s D Bs 288 alr a7 m9 BI Ba 269 "Tính tung bình củ ca 6 kịch ban thì đến cuỗi thé ky XXW nhiệt dB trung bình của nước ta có khả năng tăng thêm 2,8°C, mực nước biển ding cao thêm 37cm. Số liệu nếu trên chưa tinh đến sự tan băng mà chỉ tính đến sidan nở nước đại đương Xu thể chung của BĐKH ở Việt Nam theo Nguyễn Khắc Hiểu ¡ Nhiệt độ ở các vùng phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng phía Nam: i) Nhiệt độ ở các vùng ven biển tăng chậm hơn các vùng sâu hơn trong lục địa; ii) Đến cuối thé ky XI nhiệt độ trung bình của nước ta có th tăng thêm từ 4,0 đến 4,5” theo kịch bản cao nhất và từ 2.0 đến 2,2°C theo kịch bản thấp nhất Cũng ti Hội thảo khoa học nói tên, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã đến dự và đưa ra một số định hướng sau đây về những công việ can phải âm để dối phó và thích ứng với nh trang BĐKH: ~ Tổng kết rút ra kinh nghiệm thành công và chưa thành công của cha Ong ta trong nhiều thé kỷ qua, được đẩy mạnh trong thời cận hiện dai trong việc ứng phó với các loại " in ti” thường xuyên xây ra ở các vùng đồng bằng thấp. vùng ven biển, ~ Xây dựng mạng lưới kênh mương rộng lớn phục vụ việc tưới và tiêu nước cho đồng bằng; ~ Giả cổ hệ thống đ ~ Xây đựng các công tình hỗ thủy điện — thủy lợi didu tết ở thượng nguồn: ~ Từng bước xây dựng tuyển để biển từ Bắc vào Nam kết hợp xây dựng các cống điề tết thoát là và ngĩn mặn ở các cửa sông; = Xây đựng các công trình kề bir chống sat ở sông và biển; + Nao vết cửa sông, lung vào cảng; ~ Bơm thoát nước cưỡng bức đổi với nạn ng, ngập sâu và ô nhiễm nặng tại các vùng dit thấp ở đồng bing và ven biển ~ Những công tình có quy mô lớn, xây dựng bền vững lâu đãi như hệ thống công trình “chung sống với lữ" ở đồng bằng Cứu Long, tuyển để biển Bắc-Nam cin được hoạch định có căn cứ khoa học về tuyến, về nén móng, để những công việc ‘urge thực hiện ngảy nay còn được tiếp nối thuận lợi cho nhiều thể hệ mai su Ngày 9/9/2009 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thức công bổ ba kịch bản BDKH và nước biển dâng cho Việt Nam trong thé ky XX theo các trưởng hợp hít thải trung bình, tấp và ao. Theo đó, n thể giới phát thải í, ý hức bảo về môi trường của con người ốt th thy tế có thể diễn ra theo kịch bản phát hải thấp Khi đó, nhiệt độ của năm 2100 chỉ tăng từ 14°C đến 1,7°C ty theo từng vùng.
nếu dân số tăng nhanh, néu các nước tiếp tục gia tăng sự phat thải thì kịch bản phát thai cao rit có thể sẽ trở thành hiện thực. Khi đó, nhiệt độ có th tăng từ 2,1°C cho đến 3,6 °C, tức là mức tăng gắp đôi kịch bản phát thải thấp. Kịch bản nước biển dâng cũng đã được xây dựng theo các kịch bản phát thai thấp — trùng bình — cao. Theo đó, vio giữa thé ky XXI, mục nước biển có thé dâng thêm lần lượt là 28cm ~ 30em ~ 33em và đến cuối thé kỷ XI, mực nước biển dâng thêm từ 65em - 75em - 100cm so với thời kỳ 1980-1999 “Theo kịch bản tung bình, tổng lượng mưa năm và lượng mua mùa mưa ở tắt cả các vùng của nước ta đều tăng, trong khi đỏ lượng mưa mùa khô cổ xu hướng giảm.
Theo tinh toán, nếu kịch bản tung bình xảy ra vào giữa thể ky XXI mực nước biển có ling thêm khoảng 30em và dn cuỗi thể ky này, mực nước biển có thé ‘dang thêm khoảng 75cm so v thời kỳ 1980-1999. Kịch bản cũng cho biết: tại TP. Hồ Chí Minh néu nước biển dâng thêm 65cm thì phạm vị ngập fa 128km chiếm 6% điện tích: ding 75cm ngập 204 km? chiếm 10% và nếu dâng 100cm thi diện tích ngập lên tới 473 km, chiếm 23% diện tích thành phổ. Tại Đẳng bằng sông Cửu Long: nếu nước biển dâng 65cm thì diện tích ngập là 5.580 km’, cl 19%; dâng 100em thì diện tích ngập là 15.8% điện tích ving đồng bằng 2, Một sé công trình khoa học đã nghiên cứu có liên quan đỗ biến đỗi khí hậu ở' 1) Nghiên cứu Biến đổi khí hậu Châu A: Báo cáo của Việt Nam (ADB, 1994) [43] do Viện Quy hoạch Thủy lợi chủ trì thực hiện, được tải trợ từ Ngân hàng phát triển Châu A.
Tham gia cùng thực hiện nghiên cứu còn cổ các chuyên gia nghiễn cứu từ 10 cơ quan nghiên cứu Việt Nam như Viện Khí tượng Thủy văn, Trường Đại học “Thủy lợi, Viên Khoa học Thủy lợi, Trường Đại học Tổng hop. Nghiên cứu cũng nhận được tư vẫn trực tiếp từ IPCC và các chương tình của Liên hợp quốc như UNEP, UNDP, UN/ESCAP, UNCRD, WB. Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai lưu vực sông Hồng - Thấi Bình và sông Củu Long, gồm có i) Tác động của biển đổi khí hậu đối với các điều kiện tự nhiên và xã hội ở Việt Nam, ii) Các lựa chọn chính sich đối pho với biển đổi khi hậu, it) Chi lược ứng phổ của quốc gia -10- “Tác động của đổi k tậu được xem xét và đánh giá định lượng tương đối chỉ tiết, cụ thể cho nông nghiệp, tài nguyên nước, hệ sinh thái ngập mặn, lâm nghiệp, hệ thống năng lượng. sức khỏe công đồng và cơ sở hạ ting.